Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Năm lăm năm ấy biết bao nhiêu tình



Năm lăm năm ấy
  biết bao nhiêu tình!

                                                     -Tuỳ bút -

 Nhân kỷ niệm 69 năm ngày thành lập QĐNDVN mình đưa lại bài viết này
 
               Đối với một con người, tuổi năm mươi là tuổi hiểu biết sự đời, hiểu cả “mệnh trời”. Đó là cái tuổi của sự hoàn thiện, của sự chín muồi về tư duy, của sự chửng chạc về nhân cách, sự nhạy bén và quyết đoán về mọi việc trên đời. Chẳng thế mà từ xa xưa người ta đã rút ra một câu chắc như đinh đóng cột, đó là: ngủ thập tri thiên mệnh!
      Chẳng biết vì sao khi nghĩ về Quân đội ta, Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội anh hùng “bách chiến bách thắng” trong suốt 55 năm qua, tôi lại chợt nghĩ tới câu này. Quân đội ta đã tròn 55 tuổi, đang giữa tuổi “ngủ thập”, tuổi hoàn toàn khẳng định về tài, về đức, về sự nghiệp và về cả niềm tin...
      Ai có thể ngờ, 55 năm trước, tại khu rừng Sam Cao thuộc tổng Hoa Thám huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), 31 chàng trai và 3 cô gái, là 34 nông dân, thợ thuyền và trí thức học sinh do Đảng và Bác Hồ chọn lựa, đứng tuyên thệ lập nên một đội quân mà chỉ trong chốc lát đã vươn vai lớn lên như một chàng Phù Đổng! Mà cũng đúng thôi, họ là cháu con của Phù Đổng Thiên Vương, của những người anh hùng giữ nước, trước nhân dân thì hiền lành chất phác nhưng trước kẻ thù thì mạnh mẽ, dũng mưu, khó khăn nào cũng vượt qua- kẻ thù nào cũng đánh thắng! Mới ra đời được 3 ngày, chàng Phù Đổng trong đời thực này, bằng gậy tre, giáo mác, súng kíp thô sơ và bằng trí dũng tuyệt vời đã làm nên chiến công, phá tan đồn Phai Khắt rồi đồn Nà Ngần, mở đầu cho những trang sử vàng chói lọi. Chưa tròn một tuổi đầu, chàng Phù Đổng đã tự sức mình giành lại chính quyền cho nhân dân sau gần trăm năm bị thực dân đô hộ. Lên mười tuổi, chàng đã dẹp xong kẻ thù thứ nhất, giải phóng được nửa phần đất nước. Ngoài ba mươi, chàng đã hoàn thành sứ mệnh đuổi hết giặc ngoại xâm từ mọi phương mọi hướng, đưa hai miền đất nước về chung một dải vẹn toàn... 34 chàng trai và cô gái, 34 hạt giống đỏ cách mạng của 55 năm xưa ấy đã ươm thành một khu rừng bạt ngàn từ Cao nguyên Đồng Văn đến Mũi Cà Mau, từ dãy Trường Sơn đến tận quần đảo Trường Sa, toàn một dòng giống quý, có cốt lõi trung với nước, hiếu với dân rắn hơn kim cương, vững hơn sắt thép! Trên thế giới này có lẽ hiếm ở đâu có được một khu rừng thuần nhất, vững bền và tốt tươi đến thế!
      Hồi kháng chiến chống Pháp, tuy còn rất bé nhưng có bao nhiêu chuyện vẫn in đậm mãi trong lòng tôi cho tới tận bây giờ. Quê tôi có một thời bị địch chiếm, rồi một thời là “vùng du kích”. Nhiều đơn vị quân chủ lực và bộ đội địa phương từng chiến đấu và tập kết nơi đây. Mỗi lần các anh bộ đội về làng, lũ trẻ chúng tôi lại lâng lâng như ngày hội. Các anh về tuy xóm làng có thể bị phi pháo địch điên cuồng bắn phá, nhưng chúng tôi không sợ bởi háo hức đợi chờ và tin chắc là sẽ có đánh to, thắng lớn. Các anh về là biết thêm bao chuyện trên trời dưới đất, biết thêm bao bài hát, điệu hò. Các anh về như những người anh ruột thịt xa cách lâu ngày gặp lại. Hồi ấy mẹ tôi là Hội trưởng Hội “Mẹ chiến sĩ” của xã, mẹ tất bật suốt ngày, lo cho các anh từ nồi khoai bát nước. Có lần, các anh trinh sát về  nằm hầm bí mật ngay tại nhà tôi để nắm tình hình địch, chuẩn bị diệt đồn. Trong làng hầu như nhà nào cũng có hầm bí mật để hoặc tránh Tây đi càn bắt lính bắt phu, hoặc để dành cho bộ đội và du kích trú ẩn. Đồn địch đóng trên đỉnh đồi, chỉ cách nhà tôi chưa đầy cây số. Như thường lệ, sáng sớm bọn lính Tây và nguỵ lại xuống làng sục sạo. Khi chúng vào nhà, mẹ tôi trải cái nia ngay kề bên miệng hầm, vừa ngồi sàng thóc vừa hỏi han chúng, rất tự nhiên và “thân mật”! Căn hầm nằm ngay dưới vạt hành ở mé sân, cửa hầm được nguỵ trang bằng một khóm cây nghệ, cạnh đụn rơm. Lúc ấy, theo lời dặn của mẹ, tôi cứ chơi đánh đáo như không có gì phải bận tâm. Bọn lính dùng mũi súng có gắn lưởi lê chọc vào đụn rơm  một lượt rồi bỏ đi. Mẹ tôi còn “tươi cười” chào chúng! Các anh bộ đội hòan toàn bình yên và đã hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp. Vài ngày sau, cái đồn giặc từng o ép làng tôi suốt mấy năm trời đã bị san bằng! Chính nhờ sự đùm bọc chở che đầy tình yêu thương quý trọng và dũng cảm của các mẹ, các chị như mẹ tôi mà bộ đội ta đã làm nên nhiều chiến công oanh liệt. Các anh tôi chiến đấu ở những chiến trường xa xôi nào đó, chắc cũng được những người mẹ phương xa chăm sóc tận tâm, không tiếc thân mình như mẹ tôi đang chăm sóc những người con của họ. Tình cảm ấy là từ đâu mà có, nếu không phải là từ lòng tin yêu cuả dân và từ chính bản chất của đoàn quân? Bởi quân đội ta là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu! Khác với nhiều quân đội mà người lính nhập ngũ hoặc vì cuồng tín (như lính thập tự chinh, lính phát xít), hoặc vì bị mê hoặc bởi những cuộc chinh phạt đầy tiền tài, danh vọng (lính thực dân, lính đánh thuê) ; quân đội ta là tập hợp của những con người chỉ có một mục tiêu duy nhất là giành lại và giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc. Họ không tiếc máu xương, không màng danh lợi. Vì thế mà họ luôn là những người mà đi dân nhớ, ở dân thương. Tôi còn nhớ, hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, ở miền Trung các cô các chị thường hay hò:
Ơ hò, Trời mưa ướt áo ướt quần
Ướt em thì em chịu, chứ ướt Vệ Quốc Đoàn thì
 em thương!
Câu hò ấy đâu chỉ là hò cho vui miệng, mà đó thực sự là niềm yêu thương, cảm phục, không chỉ riêng của các cô gái trẻ. Vì yêu quý các anh mà hồi ấy đã có một phong trào đầy cảm động và khích lệ, đó là phong trào tình nguyện lấy chồng thương binh, đặc biệt là thương binh nặng. Từ tình thương dẫn tới tình yêu. Có biết bao người chịu thiệt thòi mất mát vì hạnh phúc chung của dân tộc đã tạo dựng được mái ấm hạnh phúc cho riêng mình. Bài hát “Bộ đội về làng” của nhạc sĩ Lê Yên với các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ... Nhà lá đơn sơ nhưng tấm lòng rộng mở.... cũng thật sự là một bức tranh tả thực mà sinh động về tình cảm quân dân lúc đó.
      Chín năm kháng chiến chống Pháp rồi mười mấy năm đánh Mỹ có biết bao hy sinh mất mát mà mỗi gia đình, mỗi thôn xóm từng gánh chịu. Làng tôi hầu như không nhà nào là không chịu những vành khăn tang, có khi vành khăn này xếp chồng lên vành khăn khác. Nhiều gia đình, người cha, người anh vừa hy sinh thì người con, người em lại cầm súng lên đường ra trận. Vào bộ đội là niềm tự hào không của riêng ai. Trước hoạ xâm lăng, mỗi người dân đều thấy số phận mình gắn chung cùng vận nước. Trước mất mát hy sinh, nào ai tính toán mảy may! Ngay như gia đình tôi, thời chống Pháp có 4 người anh đủ tuổi thoát ly thì đã có 3 anh trực tiếp cầm súng ra trận, còn một anh cũng tham gia quân đội một thời gian ngắn rồi mới thuyên chuyển qua ngành dân chính. Và đến ngày kháng chiến thành công thì tất cả cùng lúc tiến vào giải phóng Thủ đô. Mấy năm sau, khi học hết phổ thông thì bản thân tôi là em út cũng trở thành chiến sĩ trong quân chủng Không quân. Như vậy, lần lượt gia đình tôi có tới 5 người từng ở trong quân ngũ. Nếu quân đội ta không phải là Quân-đội-nhân-dân thì làm sao có thể một gia đình lại có nhiều người con tình nguyện tòng quân đến thế ? Vậy mà còn nhiều gia đình có số con nhập ngũ đông hơn!
Những năm đầu hoà bình cho đến thời chống Mỹ, trên mọi nẻo đường hành quân, tôi thường nghe các em nhỏ hát một khúc đồng dao: Anh bộ đội ơi, vào nhà em chơi, dạy em bài hát...”  Không biết có quân đội nào lại được quý yêu đến thế không nhỉ? Nghe các em nhỏ hát, ba lô súng đạn trên vai như thấy nhẹ hơn, bước đi chúng tôi như dẻo dai, vững chắc hơn, như chân cứng đá mềm hơn trên con đường hành quân bất tận. Sức mạnh của quân đội ta phải chăng cũng được tiếp nguồn từ những điều giản dị mà đầy khích lệ ấy?
      Nói đến người lính không thể nào không nói đến chiến trận, nói đến sự mất mát hy sinh của họ. Họ là những người sẳn sàng xả thân vì độc lập tự do cho Tổ quốc, cho dân tộc, đâu nề hà mất mát máu xương! Biết bao người con ưu tú của đất nước, của dân tộc đã ngả xuống trên các chiến trường trong suốt mấy chục năm qua. Một lần nọ tôi có dịp đến thăm vùng địa đạo Củ Chi. Xuống thăm 4 tầng sâu địa đạo với hơn hai trăm cây số chiều dài, ta không khỏi kinh ngạc về sức vóc con người. Nhưng có lẽ điều làm tôi xúc động nhất là khi vào thăm đền thờ liệt sĩ Bến Dược. Đó là một ngôi đền lớn, uy nghi, đẹp đẽ mà thâm nghiêm. Khi bước vào sảnh lớn của toà chính điện, đập vào mắt ta là trên ba mặt tường được gắn những tấm bia lớn thành 7 hàng ngang, khắc tên của 44357 liệt sĩ đã hy sinh tại mặt trận Sài Gòn-Gia Định trong mấy chục năm qua. Một con số nói lên sự mất mát hy sinh thật vô cùng to lớn! Tôi đã đến nhiều đền đài, nghĩa trang, nhưng chưa ở đâu có một sự xúc động mạnh như ở nơi đây. Ngay hôm ấy tôi đã viết bài thơ “ Viết ở đền Bến Dược”:
... Tôi kính cẩn nghiêng mình dâng một
 nén hương
Giữa nghi ngút trầm hương của bao người
 đến viếng
Không thốt lời khấn nguyện
Tất cả lặng yên!
Có thể nào phá vỡ sự bình yên
Của bốn vạn bốn nghìn ba trăm năm bảy
                           dòng tên hy sinh thầm lặng
Bằng vài lời sáo rỗng?!...
Đoạn kết của bài thơ:
... Trời Củ Chi trong xanh lồng lộng
Trời nơi nào cao hơn?
Địa đạo Củ Chi bốn tầng sâu mắc giăng
như thiên la địa võng
Đất nơi nào dày hơn?!
      Tất nhiên, không riêng gì Củ Chi, Củ Chi chỉ là một điển hình bởi vì tất cả mọi miền trên đất nước ta trời đều cao lồng lộng, đất đều dày thăm thẳm như nhau. Đâu cũng là trời cha, đất mẹ quý yêu. Trời đất đã sinh ra và nuôi dưỡng những người lính chúng ta, chở che và đùm bọc chúng ta, lại đón nhận chúng ta vào lòng khi chúng ta đã vì Người mà ngả xuống!
      Người đang sống nhớ người đã khuất, chúng ta có thể nào quên các anh các chị đã vĩnh viễn ra đi cho đất nước trường tồn? Và chúng ta cũng có thể nào quên những người đã để lại một phần máu xương trong suốt cuộc trường chinh vì chân lý rạng ngời không có gì quý hơn độc lập tự do ! Chúng ta cũng có thể nào quên những con người đã đổ mồ hôi sức lực, đã hao tâm tổn trí để làm nên thắng lợi ngày nay! Tất cả họ đều là những người đã vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh! Chúng ta càng không thể nào quên công lao của Bác Hồ, người cha kính yêu, người đã sinh ra và dạy dỗ quân đội ta trở thành một đội quân bách chiến bách thắng”, một đội quân của dân và vì dân, một đội quân biết thắng không kiêu, bại không nản . Và chúng ta cũng có thể nào quên được sự dìu dắt, chỉ bảo và vạch định từng bước đường đi đến chiến thắng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh cã, người đã thay mặt cho toàn quân đọc những lời thề danh dự năm nào, người mà tên tuổi làm cho bạn bè gần xa nể trọng, làm cho quân thù bạt vía kinh hồn!
Anh đã là Anh, mãi mãi Anh
Người Anh của lớp lớp hùng binh
Song toàn văn võ, thông kim cổ
Vững chí bền gan đạp thác ghềnh!
                                       (HGC)
      55 năm đã trôi qua. Với một đời người thì đó là khoảng thời gian dài, với lịch sử thì ngắn. Cái chính là khoảng thời gian ấy sẽ được ghi trên trang sử bằng nét màu đậm hay nhạt, ghi trong lòng dân tộc một dấu chì hay một dấu son. Chúng ta thật tự hào vì quân đội ta, Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 55 năm qua đã tô đậm một nét son trên trang sử vàng Tổ quốc. Và chúng ta cũng thật tự hào vì trong lòng dân tộc thì 55 năm ấy biết bao nhiêu tình!


                                                      12/1999


Không có nhận xét nào: