Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Nắm xôi ngày ấy

Nắm xôi ngày ấy


    Trong cuộc đời mình, không nói đến những bữa cỗ bàn, cưới hỏi, giỗ chạp, những bữa ăn nhậu thả sức với bạn bè; tôi đã từng dự những cuộc chiêu đãi lớn tại các nhà hàng, khách sạn nhiều sao sang trọng trên khắp các miền với đủ các món ăn đặc sản Á, Âu... Những bữa ăn ấy thật ngon lành, thật ấn tượng! Nhưng những bữa ăn như vậy cũng chỉ để lại dư vị trong một vài ngày, cùng lắm là vài tuần rồi quên. Thế nhưng có một bữa “tiệc” đã qua đi hơn bốn mươi lăm năm mà tôi không thể nào quên được, cứ như vừa chỉ mới hôm qua...
    Dạo ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc, quê tôi bước vào một cuộc "cách mạng" mới - cuộc “Cải cách ruộng đất”. Tôi mới lên học lớp 5. Như bao bạn nhỏ khác, tôi tham gia tất cả các việc phục vụ cho công cuộc "cách mạng" lớn lao này với một niềm phấn khởi và hăng say nồng nhiệt. Nhưng rồi tai hoạ bỗng ập đến với gia đình tôi và với chính bản thân tôi. Gia đình tôi bị quy sai là địa chủ, mặc dầu chỉ có hơn mẫu ruộng! Cái sai lầm từ nhận thức ấu trỉ của cán bộ Đội Cải cách đã mặc nhiên đẩy gia đình tôi sang phía “kẻ thù giai cấp”, bị cô lập với mọi người. Mẹ tôi đã mất trong kháng chiến, các anh tôi đều thoát ly nên chỉ có cha tôi và tôi là chịu mọi hậu họa. Là một nhà Nho lại từng là cán bộ lãnh đạo Mặt trận Liên Việt nên cha tôi được coi là “địa chủ kháng chiến”, không bị đấu tố, nhưng phải đi tập trung học tập cải tạo. Tài sản bị tịch thu, chẳng còn gì ngoài một căn nhà bị địch đốt cháy dở dang, một cái chõng tre khập khểnh và một cái niêu đất sứt mẻ. Tôi bỗng trở thành đứa trẻ bơ vơ, một mình thui thủi! Tôi đi mót khoai, mót lạc, cố sống qua ngày. Dù vậy tôi không chịu bỏ học. Ngày nào cũng như ngày nào, sáng cuốc bộ hơn 5 cây số đến trường, chiều đi mót, tối co rúm một mình trong căn nhà tối om. Mỗi ngày chỉ được ăn một bữa mà chẳng mấy khi đủ no. Thường thì buổi trưa sau giờ đi học về tôi lại trèo cây hái trái bần ăn cho đỡ đói. Trái bần xanh thì vừa chua vừa chát, càng ăn càng xót ruột. Nhưng dù vậy cũng còn hơn là rỗng bụng! Ban đêm không dầu đèn, ngồi thu lu trong xó tối nghe từng tiếng động của dơi của chuột; từng tiếng kêu của ếch của dế và thấp thỏm dõi nhìn ánh lân tinh lúc ẩn lúc hiện của bầy đom đóm hoặc những bóng ma trơi từ phía bãi tha ma vụt khuất vụt hiện. Không ai ra lệnh nhưng tôi hiểu vô hình chung mình cũng như đang bị quản thúc, không thể rời nhà đi đâu một bước. Bạn bè càng không thể đến đây chơi.  Gần góc vườn nhà tôi có một cây mưng (tức lộc vừng) cổ thụ mà bọn trẻ chúng tôi từ chập tối là hầu như không bao giờ dám bén mảng tới gần vì nghe đâu có một con yêu tinh áo trắng đêm đêm ngồi vắt vẻo trên ngọn cây. Nhiều hôm một mình trong nhà, nghe xa xa tiếng trống mõ, hát hò vẳng lại, tù cẳng không chịu được, tôi định ra sân chạy nhảy ít vòng, nhưng khi nhìn về phía cây mưng lại vội rụt cổ vào! Giá như không có cây mưng thì tôi đâu tù túng và khổ đau đến thế! Và giá như tôi đã đủ lớn khôn để không phải sợ ma!... Khi mới hơn chục tuổi đầu liệu có được mấy ai không run sợ trước những điều huyễn hoặc ? Khi ấy, với tôi ban ngày là đói khổ, vất vả, tủi nhục; ban đêm là nỗi cô đơn, hoảng sợ, tuyệt vọng đến triền miên! Giấc ngủ chỉ đến khi đã hoàn toàn suy kiệt cả thể lực lẫn tinh thần!
    Vào một đêm tối trời, mưa lâm thâm não nuột, tôi cứ ngồi nhìn ra cánh đồng qua khe liếp. Đêm ấy ma trơi ra nhiều quá, từng quả cầu lửa lân tinh cứ chập chờn như trẻ con đùa bỡn. Ban chiều tôi mót được rất ít khoai, tuy ăn rồi mà bụng vẫn đói meo, nằm mãi cũng không ngủ được, đành dậy ngồi nhìn... ma trơi! Trời mưa nên làng xóm im ắng như không người. Thỉnh thoảng tôi lại lén nhìn về phía cây mưng. Trời tối quá nhưng thoáng có cái gì trăng trắng chập chờn trên ngọn cây. Tôi run bắn người, không dám nhìn tiếp, nằm úp vào trong, lấy chiếu che kín mặt...  
    Đêm đã khuya lắm. Hình như có một tiếng gì động khẽ ngoài cánh cổng. Lại thêm một tiếng, rồi một tiếng nữa. Tôi ngửng đầu lên nghe ngóng, lo sợ và cảnh giác. Ma?! Tôi quờ tay vớ được thanh củi, cố nắm chặt nhưng run quá suýt đánh rơi. Bỗng có một tiếng gọi rất khẻ, chỉ như một làn gió thoảng nhưng cũng đủ để tôi nhận ra một tiếng người thân đang gọi. Đó là chị Liên, con bà bác ruột tôi. Chị là cán bộ nông hội, lại là đảng viên nên lâu nay không thể gặp tôi, càng không thể giúp đỡ tôi, mặc dầu tôi biết là chị rất thương tôi. Không hiểu có việc gì mà đêm hôm mưa gió thế chị lại đến tìm tôi? Tôi không dám lên tiếng, đẩy cánh liếp chạy ra nhưng không còn thấy ai nửa. Hay là... ma? Tôi chạy vội vào nhưng được một đoạn lại quay trở ra. Có một cái gì đó như một lời mách bảo tôi quay lại cổng vườn. Tôi đến bên cánh cổng tre, cúi xuống lần mò dưới đất và tìm được một gói lá chuối. Tôi cầm lên chạy vụt vào nhà, trống ngực đánh loạn xị.
    Không có đèn nhưng bằng khứu giác và xúc giác tôi nhận ra ngay đó là một gói xôi và 2 miếng thịt. Đúng là “buồn ngủ gặp chiếu manh”, “mèo mù vớ cá rán”! Hơn nửa năm qua tôi chưa hề biết đến hột cơm, giọt mỡ, nói gì đến xôi, đến thịt. Mùi nếp sao mà thơm, mùi mỡ sao mà ngậy! Tôi cứ mân mê trong tay, vừa muốn ăn vừa muốn để dành. Nhưng cái đói, cái thèm không thể nào kìm được. Tôi ăn ngấu ăn nghiến, tưởng như có thể nuốt trôi cả nắm xôi một lúc. Mới ăn được hai ba miếng, tự  nhiên tôi như bị tắc nghẹn, nước mắt trào ra không cách nào kìm được. Tôi nấc lên từng hồi như bị ai đánh mắng nhục mạ, uất ức đến quặn lòng. Tôi bỗng thấy tủi thân, thấy mình khổ cực đến tột cùng. Cuộc đời sao ác độc, sao lại xô đẩy tôi vào cảnh ngộ này! Tôi chợt nghĩ đến những ngày no đủ dường như đã xa xưa lắm. Tôi nghĩ đến mẹ tôi, chắc hồn người còn quanh quẩn bên tôi mà không thể làm gì được cho đứa con trai út bé bỏng của mình. Tôi nghĩ đến cha tôi, ở nơi tập trung cải tạo, không biết ăn uống ra sao khi tuổi đã cao, răng rụng không còn một chiếc. Chắc lúc này cha tôi cũng đang hết sức lo nghĩ về tôi. Tôi nhớ đến những ngày kháng chiến, theo cha mẹ chạy giặc khắp nơi, nhiều lần chết hụt mà sao vẫn hạnh phúc đến tràn trề. Rồi tôi nghĩ đến bóng đêm dày đặc xung quanh và những con ma chập chờn lẩn quất ngoài ngõ tối... Nắm xôi trên tay, thỉnh thoảng tôi mới nhấm nháp từng tý một. Tôi cứ sợ nếu ăn hết thì có lẽ mình không bao giờ còn được biết đến mùi vị thơm ngon ấy nữa! Cho đến rạng sáng, khi sắp đi học tôi mới nhặt nhạnh nốt những hột xôi cuối cùng còn dính trên lá chuối. Đêm ấy tôi không hề chợp mắt. Một bữa “tiệc” có một không hai, chỉ riêng mình tôi dự, chỉ riêng mình tôi biết, chỉ riêng mình tôi ghi nhớ suốt cuộc đời! Ngay cả bà chị tôi chắc cũng không thể nào biết được mình đã “chiêu đãi” cậu em một bữa tiệc tuyệt vời đến thế!
    Bốn mươi lăm năm rồi mà tôi cứ tưởng như mới hôm qua. Dấu ấn của một thời đói khổ cứ in đậm mãi trong tôi. Vợ tôi nhiều khi không hiểu tại sao tôi thường cố ăn hết cơm thừa khi đã rất no, lại còn vét sạch đáy nồi không chừa một hột cơm nào dính sót! Với tôi, mỗi hột cơm thật sự là một hột vàng. Tôi đề ra một nguyên tắc mà các con tôi rất miển cưỡng chấp nhận. Đó là cuối bữa ăn, nếu còn thừa nhiều thì cất đi để hôm sau rang hoặc hấp; còn nếu thừa dưới một bát thì phải cố ăn bằng hết, không được đổ đi. Lúc no đủ cần nghĩ về lúc thiếu đói, điều mà ông cha ta thường dạy bảo, điều mà chính bản thân tôi từng chiêm nghiệm từ thuở thiếu thời!


Hè 1999

Không có nhận xét nào: