Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

Đi rồi mới biết Lý Nhân

Đi rồi mới biết Lý Nhân

-Bút ký-


Trời đã chuyển sang thu. Đoàn chúng tôi rời Hà Nội khi những tốp các bà các chị đi thể dục sáng đang ríu ra ríu rít xuôi ngược trên đường. Gió ban mai mát rượi. Chú lái xe định bật máy lạnh nhưng mọi người đều đề nghị mở toang cửa kính để đón gió trong lành. Lâu lâu mới được ra ngoài thành phố, ai cũng muốn hưởng một chút “gió nội hương đồng” với đầy đủ nghĩa đen của nó. Khi xe phóng nhanh trên con đường mới 1B với vận tốc lên tới 100 Km/giờ thì đành tiếc rẻ mà đóng kín cửa hoàn toàn. Đoạn đường trước kia phải đi mất hơn 3 tiếng thì nay chỉ còn chừng một nửa. Tôi chợt nhớ tới một câu thơ ngẫu hứng của XD từ hồi kháng chiến: “Hôm nay ra khỏi u tỳ quốc/ Một chiếc xe nhanh vượt giữa trời”! Chúng tôi không ở trong “u tỳ quốc”, nhưng cảm giác mỗi chuyến đi vẫn cứ như được sổ lồng. Từ Hà Nội về tới Phủ Lý chưa hết 1 giờ. Cái thị xã nhỏ nhoi và thưa thớt khi xưa nay như đã lột xác thay da, khang trang và rộng rãi. Chừng 5 năm trước chúng tôi đã có một kỷ niệm không lấy gì tốt đẹp về cái thị xã này khi mà một đoàn “văn nghệ sĩ” chúng tôi bị một chủ nhà hàng ăn ... cứa cổ! Những con sâu làm rầu nồi canh, thị xã Phủ Lý đã từng mang tiếng xấu vì thói bắt chẹt khách của một số nhà hàng như thế. Bây giờ chắc đã khác xưa? Nhưng chúng tôi không có việc gì cần dừng lại nơi đây nên không có dịp chứng minh những gì sau “đổi mới”. Chúng tôi đang háo hức tới huyện Lý Nhân, mảnh đất tuy rất gần mà vẫn còn rất lạ lẫm!
Đường về huyện Lý Nhân không được bằng phẳng lắm. Con đường nhựa trên đê đang xuống cấp nên chưa đến 2 chục cây số mà xe đi gần mất 1 giờ. Tuy nhiên chúng tôi không thấy khó chịu chút nào. Hai bên đường là một mầu xanh, một mầu xanh tràn đầy sức sống làm phơi phới tâm hồn. Tôi không biết nên tả thế nào cho trọn ý về cái mầu xanh của cây cối , của cánh đồng lúa hè thu đang thì con gái mướt trải trong ánh nắng ban mai. Một câu thơ bất chợt loé trong đầu: “Ồ, xanh thế, xanh như mầu hy vọng / Lúa đang thì thiếu nữ, lúa trao duyên!...” Không thể nghĩ tiếp vì chúng tôi cần thu vào “ống kính” tất cả những gì đang lướt qua trước mắt. Có thể 2 câu thơ này là gợi ý của một bài thơ mà đến một lúc nào đó tôi sẽ hoàn thành. Lúc này thì chưa cần phải vội. Tôi không có năng khiếu và thói quen làm thơ ngẫu hứng.
Thị trấn Vĩnh Trụ kia rồi. Một “phố huyện” cũng gần như bao phố huyện mà tôi có dịp đi qua, tôi chưa kịp nhận ra một nét gì độc đáo. Vẫn là những “dáng dấp thị thành” mà thời “mở cửa” đã ồ ạt tạo nên. Đô thị hoá đang là một trào lưu rộng khắp. Trụ sở huyện rất khang trang, thậm chí còn khang trang hơn nhiều cơ quan ở thủ đô mà tôi được biết. Nó thể hiện ít nhiều thực chất “cái sự giàu nghèo” của huyện.
Tiếp đoàn CLB Thơ Tràng An (thuộc Hội Nhà văn Hà Nội) chúng tôi là chị Trần Thị Hằng, chủ tịch UBND huyện. Khác với một số “quan tri huyện” khác, chị Hằng rất giản dị và cởi mở. Chị vốn xuất thân là một bác sĩ. Khác với nhiều người, chị Hằng chỉ giới thiệu những nét chính về địa phương mình mà không hề có ý khoa trương hay “quảng cáo” như đâu đó thường làm. Điều đó đã làm cho chúng tôi bị thuyết phục và thật sự quan tâm ghi nhận.
Lý Nhân là một huyện thuộc vùng chiêm trũng Hà Nam. Thuở xa xưa huyện có tên là Lỵ Nhân, do vua Lý Thái Tông từng lập hành điện tại vị trí xã Lý Nhân ngày nay. Một thời gian dài đổi thành huyện Nam Xang, sau mới đổi thành Lý Nhân. Toàn huyện nằm giữa “tứ cố đại hà”, bị bao bọc bốn bề sông nước. Xưa kia đây là vùng đất “chiêm khê mùa thối, là một huyện nghèo giữa châu thổ sông Hồng trù phú. Đã vậy, huyện lại nằm xa các trung tâm kinh tế, xa các đường quốc lộ. Việc giao lưu kinh tế, văn hoá ở đây gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế. Đã bao đời Lý Nhân là một huyện thuần nông nghèo khó, nghèo khó như truyền kiếp, nghèo khó như định mệnh trời đày. Mặt khác, Lý Nhân lại là một huyện có vị trí địa lý đặc biệt, nằm kẹt giữa sông Hồng và sông Châu; là trung tâm của một vùng rộng lớn giữa bốn tỉnh Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Hưng Yên. Vì thế từ xa xưa bọn xâm lược phương Bắc qua các thời kỳ, rồi thực dân Pháp và phát xít Nhật luôn nhòm ngó và tìm mọi cách để chiếm đóng bằng được nơi đây. Nhân dân Lý Nhân luôn sống trong cảnh bị áp bức bóc lột, càng nghèo đói đến kiệt cùng. Bởi vậy nơi đây luôn có truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường. Thành tích đấu tranh cách mạng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của Lý Nhân thì chúng tôi không thể nào ghi hết được; nó đã được Nhà nước đánh giá rất cao qua quyết định phong tặng quân và dân toàn huyện danh hiệu “Anh hùng LLVTND” đầu năm 2002.
Công cuộc đổi mới đã đưa Lý Nhân vào một bước ngoặt quyết định trên con đường hạnh phúc ấm no. Bộ mặt của Lý Nhân đã hoàn toàn đổi khác. Đường giao thông đã toả về mọi xã mọi thôn. Dòng điện đã mang ánh sáng đến khắp mọi nhà. Từ thuần nông, huyện đã tạo thêm các ngành nghề khác như dệt may, dâu tằm, mây tre đan, đồ gỗ ... với tỷ trọng đã gần tới một nửa thu nhập chung cả huyện. Những cánh đồng lúa cao sản xanh mướt, gợn sóng như reo vui, như khoe sắc, như đón chào mỗi bước chúng tôi qua. Đó là ấm no, là đổi mới, là tương lai, là thành quả của cách mạng mùa thu đem lại cho vùng chiêm trũng nơi đây. Lý Nhân đã thực sự đổi thịt thay da sau những ngày “đổi mới”. Nhà thơ Thái Lương, nguyên là một Tổng giám đốc, từng một thời lặn lội cùng cây mía nơi đây nhận xét là “không còn nhận ra những làng quê mà mình đã đến”.
Đoàn chúng tôi đặc biệt quan tâm đến nét đặc trưng về văn hoá giáo dục của huyện. Vì thế chúng tôi đề nghị các đồng chí lãnh đạo huyện cho đến một vài nơi có tính đặc trưng của địa phương. Đồng chí Hùng, trưởng phòng Văn hoá dẫn chúng tôi về trường phổ thông cơ sở Bắc Lý. Nghe tiếng trường từ những năm đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, bây giờ mới được đến tận nơi, mọi người trong đoàn đều vô cùng phấn khởi. Bắc Lý bây giờ là một ngôi trường với những dãy nhà 2, 3 tầng rất khang trang đẹp đẻ. Các em học sinh mặc đồng phục đang xếp hàng giữa sân, chuẩn bị bước vào năm học mới. Chúng tôi được ông Mão, hiệu trưởng tiếp và mời đi xem phòng truyền thống. Nói đến trường Bắc Lý thì có lẽ tất cả những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đều coi là một nơi thân thuộc. Bởi vì nơi đây đã gióng lên tiếng trống Bắc Lý, mở đầu cho phong trào “2 tốt” hơn bốn chục năm về trước và từ đó tới giờ vẫn luôn giương cao ngọn cờ đầu của ngành giáo dục, xứng đáng là một đơn vị được tuyên dương danh hiệu anh hùng lao động tới 2 lần. Phòng truyền thống chật kín các loại trướng và cờ thi đua. Đó là mồ hôi, là trí lực của bao thế hệ thầy trò Bắc Lý làm nên. Những con số thống kê đưa ra sẽ trở nên vô vị khi không được nhìn thấy những hiện vật mang đầy chứng tích mà họ đã có được bằng chính sức lực của mình trong hơn bốn chục năm qua. Vốn là một nhà giáo, nhà thơ nữ Phi Tuyết Ba rất chăm chú xem xét và ghi chép cẩn thận mỗi một hiện vật trưng bày.
Lý Nhân có nhiều di tích lịch sử và văn hoá, cả vật thể và phi vật thể. Đây là nơi đã phát hiện ra chiếc trống đồng Ngọc Lũ, chiếc trống đồng cổ nhất và đẹp nhất trong các trống đồng Đông Sơn. Cuốn sách đồng được tìm thấy ở Bắc Lý là một trong 4 cuốn sách đồng còn lại ở nước ta, lại là cuốn có niên đại cổ nhất. Từ bé tôi đã từng nghe nói đến “chiếc bóng oan khiên”. Thì ra đó là một chuyện hoàn toàn có thật từ thế kỷ thứ 10 ngay tại nơi đây. Bà Vũ Thị Thiết có chồng đi lính phương xa, đêm đêm thường chỉ cho con nhỏ chiếc bóng của mình in trên bức vách và nói đó là cha của bé. Khi chồng trở về, nghe lời con, nghi oan cho vợ! Không thể thanh minh, bà đã nhảy xuống sông tự vẫn! Một bi kịch đời thường mang đầy giá trị nhân văn. Năm 1471 vua Lê Thánh Tông tuần thú qua đây có để lại 2 bài thơ viếng rất nổi tiếng tại đền thờ bà Vũ Thị Thiết. Tại Lam Cầu và Lý Nhân có đền thờ bà Mỵ Ê phu nhân. Tương truyền vua Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành về có đem theo Mỵ Ê là phi của Sạ Đẩu Chiêm vương. Khi đến hành điện Lý Nhân vua cho triệu phu nhân đến hầu, nàng phẫn uất liền quấn chăn vào mình, nhảy xuống sông tự vẫn. Nhà vua rất cảm kích, khen là trinh tiết và truy phong bà làm Hiệp chính hựu thiện phu nhân. Nhân dân đã lập đền thờ bà và các triều đại về sau đều có sắc phong tặng. Chúng tôi còn được nghe một chuyện khác, cũng rất đáng được nhớ ghi. Tương truyền mùa xuân năm Mậu Thìn 1148 vua Lý Anh Tông, noi theo gương Lê Hoàn, ngự đến hành cung Lỵ Nhân cày ruộng tịch điền. Vua đã nêu một tấm gương cho các bậc công hầu khanh tướng, cho lương dân và cho hậu thế.
Đoàn chúng tôi đến xã Hưng Đạo thăm đền Trần Thương, nơi Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo đã xây dựng một kho hậu cần lớn để cung cấp lương thảo và quân trang cho binh sĩ. Chính tại nơi đây, Đại Hoàng công chúa, phu nhân Thượng tiền điện suý tướng quân Phạm Ngũ Lão đã nêu một tấm gương sáng của người phụ nữ Việt Nam trong việc vận động quyên góp vải vóc, quân lương phục vụ cho công cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Nguyên – Mông. Đền Trần Thương bây giờ đã trở thành một nơi được nhiều người biết đến vì ý nghĩa lịch sữ và vì cảnh quan của nó. Tháng 8 hàng năm nơi đây mở hội, người hành hương kéo đến rất đông. Ngôi đền nằm trên một địa thế rất đặc biệt, giống hình một người phụ nữ đang nằm, đầu nghiêng sang phải. Hai tai là 2 cái giếng, bờ uốn cong cong. Bộ ngực là 2 hồ sen nho nhỏ tròn xinh. Mái tóc xanh là một cây đa cổ thụ có trên nghìn năm tuổi, gốc to mấy chục người ôm, đã bị trật gốc sau một cơn bão năm 1996, thật tiếc. Nghe đâu gỗ của cây đa xẻ ra đã đóng được 500 bộ bàn ghế mà vẫn còn thừa. Bây giờ người ta đã trồng thay cây đa khác. Nếu đường sá được nâng cấp tốt hơn thì chắc nơi đây sẽ là một địa điểm du lịch rất hấp dẫn với khách thập phương.
Giá như có nhiều thời gian chắc chúng tôi còn muốn đến thăm nhiều địa danh hơn nữa. Tôi cứ tiếc mải vì không kịp tìm hiểu đến ngọn nguồn câu hát ví: “Làng Đọ bơi thuyền / làng Yên chạy ngựa / làng Nội múa hát Lải Lèn”. Lễ hội múa hát Lải Lèn tổ chức vào mùa xuân, rất đặc sắc, mang nhiều yếu tố phồn thực, được nhân dân vùng này yêu thích và trân trọng giữ gìn. Nhà thơ Nguyễn Khôi, người đã từng dịch trường ca “Sống chụ son sao” (Tiễn dặn người yêu) của dân tộc Thái, rất quan tâm, rất mong muốn được sưu tầm điệu múa hát này.
Xe đưa chúng tôi xuống xã Hoà Hậu, nơi có làng “Vũ Đại” lừng danh. Trên đường đi chúng tôi bắt gặp một tấm bia “căm thù” khá lớn ở xã Nhân Nghĩa. Tấm bia ghi lại tội ác của thực dân Pháp đã giết hại 30 cụ già và 2 em nhỏ đầu năm 1952. Đất Lý Nhân đã từng thấm máu biết bao người, từ cụ già tới em nhỏ, để có được mầu xanh vĩnh cửu! Mộ nhà văn – liệt sĩ Nam Cao đã được xây cất rất khang trang đẹp đẻ, xứng với tầm cở của một người được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Phía trước ngôi mộ là phù điêu một trang sách rộng mở của tác phẩm “Sống mòn”. Một ngôi nhà tưởng niệm bề thế vừa xây xong, đang chờ trưng bày hiện vật về nhà văn quá cố. Thắp hương tưởng niệm bậc tiền nhân, mỗi người chúng tôi không khỏi nghĩ về trách nhiệm cầm bút của chính bản thân mình. Ông già trông coi mộ phần của nhà văn chỉ cho chúng tôi vị trí ngôi nhà của “Chí Phèo”, ngôi nhà của “lão Hạc”và ngôi nhà của chính nhà văn, nơi mà thuở xưa Nam Cao viết “Sống mòn”. Ông còn dẫn chúng tôi tới thăm khu vườn và nhà lấy làm hình mẫu dinh cơ nhà “Bá Kiến”. So với phần lớn các ngôi nhà của nhân dân trong làng bây giờ thì ngôi nhà của Bá Kiến chẳng đáng kể gì. Điều đó càng chứng tỏ đời sống của dân nơi đây bây giờ cao hơn rất nhiều, hơn cả địa chủ thời xa xưa ấy. Làng “Vũ Đại” bây giờ thật trù phú. Những vườn quýt, hồng, đu đủ, chuối, chanh ... xanh tươi trĩu quả. Đã từ lâu nghe tiếng chuối ngự Đại Hoàng, thứ chuối đặc sản xưa chỉ dùng để tiến vua, chúng tôi háo hức kiếm tìm mà không thấy nơi đâu có bán. Phải chăng chuối đã nối đuôi nhau theo những con đường xuất khẩu? Vừa mừng nhưng cũng vừa tiêng tiếc làm sao!
Trời đã quá chiều, chúng tôi đành quay về thành phố. Một ngày trên đất Lý Nhân không thể nào đi thăm hết được, càng không thể nào biết hết được quá khứ, hiện tại và những tia sáng trên con đường hướng tới tương lai của mảnh đất vùng đồng chiêm trũng. Cám ơn những người bạn Lý Nhân đã rất hiếu khách, giúp chúng tôi hiểu biết một phần về lịch sử, về con người và về một miền quê xanh biếc sắc mùa thu. Tôi cứ nhẩm trong đầu:
Chưa đi chưa biết Lý Nhân
Đi rồi lòng cứ bần thần vấn vương!...

8/2003

Không có nhận xét nào: