Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

Chống gậy về thăm trận địa xưa

Chống gậy về thăm trận địa xưa

QĐND - Thứ Năm, 24/06/2010, 3:11 (GMT+7)
Ghi chép của Hoàng Gia Cương

Nhận lời mời của lãnh đạo huyện Kim Sơn (Ninh Bỡnh), ngày 10-5-2010,Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn chống gậy về thăm Phát Diệm, nơi ông từng cùng đồng đội ghi dấu chiến công trong một trận đánh thần tốc, bất ngờ, đầy hiệu quả trong chiến dịch Quang Trung (Hà Nam Ninh) cách đây gần 60 năm (1951-2010).
Ở vào tuổi ngoại bát tuần, sức khỏe có nhiều giảm sút, nhưng trong đầu ông những kỷ niệm xa lắc vẫn còn in đậm đến từng chi tiết. Đã bao năm ông ấp ủ và mong mỏi chuyến đi này.
Xe rời Hà Nội trong một cơn mưa dông tầm tả, cơn mưa của đợt lũ tiểu mãn. Cũng đúng vào dịp này, 59 năm về trước ông đã dẫn một phân đội cơ động đặc biệt, mang theo 1 khẩu pháo cối 81 ly của Mỹ với 20 viên đạn uy lực lớn (grande capacité), bí mật băng đồng, vượt sông trong cơn mưa tầm tả, nước ngập mênh mông trắng xóa, để áp sát sào huyệt địch. Cơn mưa sáng nay như một sự gợi nhớ về kỷ niệm xưa! Ông trầm ngâm, miên man suy tưởng trên suốt chặng đường đi.
Gần trưa, xe về tới Phát Diệm. Đồng chí Đỗ Hùng Sơn-Phó bí thư thường trực huyện ủy và Thượng tá Luật, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện đón khách với cái bắt tay siết chặt. Huyện đang biên soạn bộ lịch sử đảng bộ huyện nên rất mong muốn được tiếp xúc với các đồng chí là “nhân chứng sống” đã từng góp mặt trong các chiến công chói ngời trên mảnh đất này.
Như trở về thăm lại mái nhà xưa, Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn bồi hồi nhìn đất nhìn trời như một nhà quay phim cố ghi lại tất cả vào tầm mắt. Thời gian đã làm cảnh vật thay đổi, chỉ có dòng sông, bờ đê và một vài điểm là vẫn như xưa...
Cũng cần phải nói thêm về bối cảnh đã diễn ra trận đánh này. Sau chiến dịch Biên Giới, do địch tập trung quân ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ để cố thủ và hòng đánh phá vào vùng tự do của ta, tháng 4-1951, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã quyết định mở Chiến dịch Quang Trung, hay còn gọi là Chiến dịch Hà Nam Ninh. Kết luận về mục tiêu của chiến dịch này, Hồ Chủ tịch đó tóm lược trong 4 câu thơ: “Diệt sinh lực địch/Phá tan ngụy quân/Đẩy mạnh du kích/Tranh thủ nhân dân”. Ta đã tập trung về đây 3 đại đoàn chủ lực gồm 304, 308 và 320 cùng 2 trung đoàn 42, 46 … để ngăn chặn và phá tan âm mưu của địch. Vào thời điểm ấy, tháng 5-1951, Đại tướng Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi (sau được phong thống chế), Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp và đồng thời là Cao ủy Pháp tại Đông Dương từ Sài Gũn ra Phát Diệm (nơi được coi là “thủ đô” Công giáo) để họp với giám mục Lê Hữu Từ, bàn mưu tính kế chống phá lực lượng kháng chiến của chúng ta. Cần một trận đánh phủ đầu để đè bẹp ý chí của chúng! Bộ tư lệnh Chiến dịch đã quyết định đánh ngay vào sào huyệt đầu não chúng.
Vào một tối đầu tháng 6-1951, tại đền Rồng bên Quốc lộ 1 ở Tam Điệp, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304 Hoàng Minh Thảo (sau này là Thượng tướng) đã gặp và trao nhiệm vụ cho một cán bộ trẻ là Phân đội trưởng Huỳnh Thúc Cẩn, chọn lựa một phân đội gồm những chiến sĩ kiên cường và năng động nhất đi làm một nhiệm vụ đặc biệt. Trước đó ít ngày, vào tối 28-5-1951, Huỳnh Thúc Cẩn đã dẫn một phân đội với 2 khẩu SKZ bí mật, táo bạo đặt súng cách lô cốt địch 9m diệt gọn bốt Cổ Đôi, mở màn cho chiến dịch Quang Trung; và ngay sau đêm đó cũng bằng cách ém sát, đặt SKZ cách bốt địch 7m, anh lại chỉ huy phân đội diệt gọn đồn Bụt Nỗi. Có thể gọi đó là những trận đánh “pháo đặc công”. Đại tướng Tổng tư lệnh đã gửi điện khen chiến thắng mở màn này. Đại đoàn trưởng Hoàng Minh Thảo trong khi giao nhiệm vụ đã căn dặn người chỉ huy trẻ rất nhiều về yếu tố “thần tốc, bất ngờ, đánh nhanh, diệt gọn và bảo toàn lực lượng”.
Tối 6-6-1951, phân đội pháo đặc biệt của người chỉ huy trẻ Huỳnh Thúc Cẩn lặng lẽ lên đường. Trời vẫn mưa tầm tả, sấm chớp nhì nhoằng, xóm thôn yên ắng. Cả phân đội, người khiêng nòng, người khiêng đế, người vác đạn và vũ khí cá nhân với không dưới 3 tạ “hàng”, yên lặng men theo bờ ruộng, bờ mương nhằm hướng đông bắc mà tiến. Nước mưa thấm ướt lạnh run nhưng các anh vẫn cởi áo bọc kỹ cho những viên đạn luôn khô ráo. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất để làm nên chiến thắng. Các anh mải miết đi, không theo một con đường xác định, cố né tránh bốt đồn, làng xóm để tránh những con mắt dò la của địch và cả tiếng chó sủa cầm canh. Khoảng quá canh 3, sau 8 giờ hành quân bôn tập, các anh đã tới vùng Phát Diệm.
Cùng với 3 chiến sĩ giao liên, 9 cán bộ, chiến sĩ của phân đội (để giữ bí mật, anh quy định bí danh mỗi người trong phân đội lần lượt là Vững, Chí, Bền, Gan, Lập, Công, Mừng, Thọ, Bác) được phân về trú quân tại 12 cơ sở bí mật trong các thôn xóm khác nhau để chờ 10 giờ tối hôm sau (7-6-1951) hội quân đánh trận. Súng cối được giấu dưới ao bèo, đạn được vùi trong các bồ thóc nhà dân. Riêng chỉ huy trưởng Huỳnh Thúc Cẩn được “khóa kỹ” trong buồng kho của một gia đình ở Thượng Kiệm, cách bờ đê sông Vạc non trăm mét. Đây là một gia đình hình như theo đạo Thiên chúa, chỉ thấy có hai mẹ con. Nằm trong buồng tối nên anh không nhìn rõ mặt cả hai người. Bà cụ chừng ngoài năm chục, còn cô con gái ngấp nghé đôi mươi. Bà cụ nấu cơm cho anh ăn. Bữa cơm đạm bạc nhưng có lẽ đó là tất cả những gì mà gia đỡnh bà có. Anh nhờ bà mẹ cho “mượn” cô con gái đóng giả vợ chồng, dẫn anh ra đồng vờ như đi mò cua bắt ốc để quan sát địa hình, trận địa. Dưới tấm áo tơi lụp xụp, anh quan sát kỹ các mục tiêu cả gần lẫn xa và hình thành trong đầu một bản đồ địa hình khá hoàn chỉnh và chính xác. Anh cũng đã chọn được nơi đặt pháo, ước lượng được phương vị các mục tiêu cơ bản. Chỉ còn một điều làm anh băn khoăn lo lắng. Đó là vũ khí. Khẩu súng cối của Mỹ mới lấy được trong trận Cổ Đôi, các anh chưa từng sử dụng, lại không có thước ngắm. Vậy là anh phải vắt óc suy nghĩ để tính toán tầm xạ kích sao cho bắn nhanh, bắn trúng. May mắn thay, chập tối bà mẹ mang vào cho anh một hộp đường Saint Louis vỏ bằng bìa cứng và trong anh chợt lóe lên một sáng kiến, cắt hộp bìa làm thước đo góc bắn. Anh lại xin thêm một sợi chỉ trắng để làm dây dọi dóng hướng bắn. Vậy là khẩu cối đã có đủ “phụ tùng” cần thiết.
Thời điểm này bộ chỉ huy của địch tập trung bên nhà thờ Phát Diệm. Quanh khu vực là vô số bốt đồn, chòi canh. Gần cầu Trì Chính là đơn vị thiết giáp với hàng chục xe tăng, xe bọc thép luôn sẵn sàng ứng phó. Nhiệm vụ của các anh là phải đánh đòn tiêu diệt nhưng phải bảo vệ được tính mạng cho người dân. Rất khó khăn nhưng phải quyết tâm làm được. Giờ “G” đã đến. Tuy mỗi người mỗi nơi cách xa nhau tới gần chục cây số lại nằm ngay giữa sào huyệt địch, bằng nhiều phương tiện khác nhau như thuyền nan, bẹ chuối, các anh đã băng đồng, lội sông, lội ruộng, tập trung quân rất đúng giờ. Súng đã được vớt lên, lau sạch. Đạn đã kê hàng ngay ngắn. Chỉ huy trưởng tự tay chỉnh súng bằng “thiết bị đo” tự tạo của mình. Mọi người ai vào việc nấy. Người thì cảnh giới, người làm pháo thủ. Khi chiếc đồng hồ vy-le chỉ đúng 10 giờ, lệnh khai hỏa được phát đanh gọn. Lần lượt 10 quả đạn pháo dồn dập rót trúng căn cứ địch gần bên nhà thờ Phát Diệm. Đèn điện phụt tắt. Tiếng la hét, kêu gào inh ỏi. Các anh đã bắn trúng mục tiêu! Bỗng phía cầu Trì Chính có tiếng động cơ ầm ầm. Địch đang huy động thiết giáp chi viện. Lập tức các anh chuyển làn, bắn luôn 5 quả đạn về cầu Trì Chính. Tiếng xe im bặt. Lúc này chỉ huy trưởng lại ra lệnh chuyển làn về hướng cũ và “nện” tiếp 5 quả pháo còn lại vào sở chỉ huy của địch. Có lẽ vì quá bất ngờ nên địch không kịp có phản ứng đáp trả. Phân đội vội vàng thu dọn và xóa bỏ dấu vết rồi chia ra 3 nhóm rút lui về căn cứ. Vậy là các anh đã hoàn thành nhiệm vụ một cách thần tốc, bất ngờ, nhanh gọn và chính xác chỉ chưa đầy 40 giờ kể từ khi nhận lệnh.
Sau này, theo tin từ các nguồn trong hậu địch chuyển ra, pháo ta đã bắn trúng, gây nhiều thiệt hại cho địch và không làm ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân dân. Trận đánh đã giáng một đòn phủ đầu quyết liệt, gây cho địch nhiều tổn thất cả về sinh lực lẫn tinh thần và tạo nên niềm phấn khởi, tin tưởng trong nhân dân, đặc biệt là đồng bào theo đạo Thiên chúa vào cuộc kháng chiến tất thắng của dân tộc ta. Khoảng 45 năm sau trận đánh, trong một lần gặp mặt, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã nắm chặt tay anh, nhắc lại trận đánh phủ đầu ở Phát Diệm và khen: “Đây là một chiến công lớn, đồng chí đã lập công lớn!”.
Hôm nay trở lại trận địa xưa, Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn đề nghị được đến thăm Trường Lý Đoán. Thượng tá Luật như ngỡ ngàng khi thấy ông nói đến tên trường này. Đó là một ngôi trường dòng, nhỏ nhoi cũ kỹ, hiện vẫn còn nằm bên bờ đê sông Vạc. Trận địa pháo năm xưa nằm cách ngôi trường này chưa đầy 300m. Khi đoàn xe chúng tôi đi dọc bờ đê, từ xa ông đã nhận ra ngôi trường. Các anh ở huyện phải khâm phục trí nhớ của ông. Vượt qua Trường Lý Đoán, đến một lối rẽ vào xóm 4 Thượng Kiệm, ông khẳng định đó là nơi mà năm xưa các ông đã từng đặt pháo. Đứng tại chỗ này ông đã chỉ các hướng về cầu Trì Chính và nhà thờ Phát Diệm rất chính xác mặc dù bây giờ nhà cửa, vườn tược um tùm đã che khuất tất cả...
Cái xóm nhỏ thưa thớt ngày xưa, giờ đã ken dày tòa ngang dãy dọc, cây cối xum xuê. Không thể tìm lại ngôi nhà mà ông từng nương náu. Do điều kiện bảo đảm bí mật nên cả ông và bà cụ cùng cô con gái đều không được biết tên nhau. Vì vậy lúc này không biết phải hỏi sao cho ra người cũ! Nhờ các bạn trẻ dìu, ông đã cố đi sâu vào trong xóm được chừng trăm mét. Đây là khoảng cách mà theo ông là vị trí có ngôi nhà năm xưa ông đã từng trú ẩn. Cả đoàn ghé vào thăm một nhà cạnh đó. Ngôi nhà có vườn cây rất đẹp. Chủ nhà là ông Nguyễn Văn Ngần, một ông lão về hưu, vốn là cán bộ địa phương thời kháng chiến. Tuy vậy, sau một hồi trò chuyện chúng tôi cũng không thể xác định được người cần tìm là ai, bây giờ ở đâu, còn sống hay đã mất. Không tìm được người cũ, Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn ra về với một nỗi buồn còn đọng lại.
Cuối buổi chiều, Huyện ủy tổ chức một buổi gặp mặt giữa các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện ủy các thời với Đại tá Huỳnh Thúc Cẩn. Mọi người đều vui mừng vì gặp được người chỉ huy trẻ năm xưa đã làm nên chiến công lịch sử ngay trên đất huyện nhà, tô một nét son vào trang sử vàng của huyện. Vậy là ông - một người con Quảng Bỡnh - như trở thành một công dân của huyện, một công dân “danh dự”. Ông xúc động nói với các đồng chí lãnh đạo huyện là ông chỉ còn một mong muốn là làm sao tìm lại được dấu tích của cả 12 cơ sở bí mật nuôi giấu bộ đội năm xưa, đặc biệt là hai mẹ con bà cụ, dù họ còn hay mất. Các đồng chí lãnh đạo huyện hứa sẽ cố gắng tìm vì đó cũng là nguyện vọng chung của huyện.

Tháng 5- 2010

Không có nhận xét nào: