Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2010

Đây Thăng Long,
đây Đông Đô,
đây Hà Nội...


-Tuỳ bút-

Tôi đang ngồi trước trang giấy trắng tinh và cây bút chì bi mở nắp, phân vân chưa biết viết gì. Bỗng từ nhà bên vang lên bài ca "Hà Nội niềm tin và hy vọng" của nhạc sĩ Phan Nhân, một bài ca mà suốt mấy chục năm qua tôi luôn yêu thích: "Hà Nội đó niềm tin yêu hy vọng, của núi sông hôm nay và mai sau ..." Vâng, Hà Nội luôn luôn là niềm tin yêu, là niềm hy vọng của mỗi người dân Việt, của chúng ta và của chính bản thân tôi. Tôi bỗng muốn viết một cái gì đó về "Hà Nội mến yêu của ta, thủ đô mến yêu của ta"...
Hà Nội sắp bước vào tuổi có ba con số 0 nối dài sau con số 1. Thật háo hức, thật tưng bừng chào đón cái ngày mà bấy lâu ta hằng chờ mong ngóng đợi. Mỗi con người sống trên đất Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, ai không khỏi tự hào về mảnh đất nghìn tuổi, về nghìn năm văn hiến mà không dễ gì có được với bất cứ nơi nào! Và mỗi người Việt nói chung, ai mà không tự hào về Thủ đô, về trái tim của Tổ quốc, nơi quy tụ của khí thiêng sông núi, nơi xây đắp nên bao sự tích lẫy lừng, hiển hách mà ông cha đã gây dựng suốt nghìn năm không nghỉ? Một nghìn năm, so với nhiều đô thị và thủ đô trên thế giới, con số đó chưa phải là quá lớn, nhưng với một dân tộc đất không rộng, người không đông, kề bên nước lớn, béo ngon như miếng bít-tết thịt bò trước bao cặp mắt cú vọ khắp phía đông tây, thường xuyên bị rình rập xâm lấn từ mọi phương, mọi hướng, đã gồng mình chống chọi mà tồn tại, mà phát triển... thì con số đó thật là vĩ đại.
Một nghìn năm! Ba trăm sáu mươi lăm nghìn ngày tồn tại. Ba trăm sáu mươi lăm nghìn ngày chống chọi với thù trong giặc ngoài để gìn giữ và phát triển mảnh đất rồng bay ! Dài lắm chứ, khổ công nhiều lắm chứ! Mảnh đất này được xây đắp nên từ cả mồ hôi và xương máu của bao lớp cha ông. Và biết bao lớp cha ông đã vắt kiệt trái tim và khối óc của mình để làm nên một huyền tích, một truyền thống nghìn năm lịch sử, nghìn năm văn hiến cho con cháu bây giờ và con cháu mai sau!
Nếu không có con mắt tinh đời, biết nhìn xa trông rộng của Lý Công Uẩn, vị tiên vương nhà Lý, cách đây 1000 năm, khi Người nhìn ngắm mảnh đất qua nhiều thời đã từng có thành Tô Lịch, có thành Đại La, có thành Tống Bình ... lúc suy lúc thịnh, nằm giữa khúc uốn quanh của dòng sông Nhĩ Hà, có thế "rồng bay", thì làm sao ta có được một thành Thăng Long, một thành Đông Đô, một thành Hà Nội rộng lớn sánh tầm cùng thời đại như ngày nay? Trước Lý Công Uẩn nhiều bậc tài danh đã cắm đất nơi đây nên mới có Tô Lịch, Đại La, Tống Bình ... Nhưng có lẽ chưa một ai trong số đó đã thấy được thế đất này là thế đất "rồng bay", một thế đất có thể làm nên nghiệp lớn, một thế đất "địa linh". Vậy nói đến Hà Nội ngày nay thì người ghi công đầu chính là Lý Thái Tổ. Và nếu Hà Nội được đặt bằng tên của một danh nhân như Oa sinh tơn xi ti hay Pê trô grát thì đó chắc phải là thành Lý Công Uẩn. Tuy vậy chuyện đặt tên chỉ là chuyện nhỏ, bởi vì mỗi người dân Hà Nội, mỗi người dân Việt Nam khi nói đến Hà Nội là ai cũng có thể nhớ về người sáng lập, về bậc tiên vương Nhà Lý. Cái tồn tại trong lòng người mới là vĩnh cửu.
Tôi không phải là người Hà Nội gốc, nhưng suốt hơn nửa thế kỷ qua tôi đã trở thành công dân Hà Nội. Trong suốt hơn năm mươi năm ấy, ngày ngày tôi uống nước trong mạch ngầm Hà Nội, tôi hít thở không khí giữa bầu trời xanh Hà Nội và mỗi tế bào trên cơ thể tôi được sinh ra, được nuôi dưỡng hoặc bị mất đi đều gắn liền với mảnh đất Hà Nội. Hà Nội với tôi không là "đất sinh" nhưng đã là "đất ở". Tôi quan niệm khác với cố nhà thơ Chế Lan Viên khi ông viết:
"Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn!".
Với Hà Nội, kể từ thuở ban đầu khi tôi chọn làm nơi "đất ở" thì trong tôi dường như nó đã hóa tâm hồn, không phải đợi đến lúc ra đi. Vì thế tôi đã từng mượn ý câu thơ của tác giả "Tiếng hát con tầu" để viết:
"Đây nào phải chỉ là nơi "đất ở"
Đợi ngày đi đất mới hóa tâm hồn?"
Thành thật cáo lỗi cùng hương hồn nhà thơ Chế Lan Viên khi tôi đã mượn ý câu thơ của ông để làm khác ý ông. Nhưng mỗi người có một cách suy nghĩ khác nhau về cùng một việc, chắc là ông hiểu thấu lòng tôi.
Tôi đã gắn bó cùng Hà Nội hơn năm chục năm, vì thế hầu như mỗi góc đường, mỗi ngõ phố, mỗi hàng cây, mỗi mặt hồ lớn nhỏ rải rác nơi nơi tôi đều ghi dấu thân quen. Năm phần sáu cuộc đời tôi đã gửi gấm nơi đây nên tôi thuộc lòng mỗi con đường, mỗi cảnh vật đổi thay qua đạn bom, qua sự thăng trầm và qua những mốc son biến đổi.
Như chỉ mới ngày nào, ngay sau ngày "kháng chiến chín năm" kết thúc không lâu, từ một cậu bé "nhà quê" gầy nhom và đen đúa, tôi được dẫn về Hà Nội với bao nhiêu lạ lùng bỡ ngỡ. Đó là những ngày Hà Nội vừa giải phóng, phố phường còn mang đậm nét pha trộn giữa Âu và Á, giữa "tây" và "ta". Tôi từ một miền quê nghèo, một vùng quê chỉ "khoai khoai là khoai", một vùng quê bị chiến tranh tàn phá nặng nề, xơ xác, ra đây. Tôi thật thấm thía với câu mà người ta thường nói diễu: "Lớ ngớ như nhà quê ra tỉnh". Thật đúng như vậy. Đó là một thế giới hoàn toàn khác biệt, cái gì cũng lạ, cái gì cũng hay, cái gì cũng đẹp... Một gia đình người Hà Nội gốc đã mở rộng lòng "lá lành đùm lá rách" cho tôi ở nhờ như với một người đồng hương thân thuộc. Đó là gia đình bác Vĩnh, chủ hiệu kem Hòa Bình ở phố Lò Đúc, nổi tiếng một thời. Tôi chỉ sống ở đó hơn một năm nhưng mãi mãi tôi coi gia đình ấy như những người thân thích của mình. Họ là những người Hà Nội, những người thật sự "Tràng An" với "hương nhài" thuần khiết. Tôi còn nhớ mải cái khoảnh khắc đầu tiên khi tôi bước vào ngôi nhà mà sau này trở nên thân thuộc ấy. Gian ngoài của ngôi nhà là cửa hàng kem, vừa là nơi sản xuất, vừa là chỗ bán hàng. Hồi ấy ngay cả cái tên "kem" tôi cũng chưa từng nghe nói tới bao giờ, khái niệm về kem càng mù tịt. Khi tôi vừa bước vào, thấy tôi là một đứa bé con nên người em trai bác Vĩnh liền lấy từ trong máy lạnh ra một chiếc kem que, trao cho tôi và bảo tôi ăn. Nhìn chiếc kem khói bay nghi ngút tôi đưa lên miệng thổi phù phù rồi cắn ngay một miếng. Chao ôi, thật kinh khủng, buốt răng không sao chịu nỗi! Tôi ngờ rằng hai hàm răng tôi đã rụng! Không còn cách nào khác, tôi đành nhắm mắt nhắm mũi nuốt trôi miếng kem vào cổ! May mà không ai để ý. Tôi không dám và không thể cắn thêm miếng thứ hai. Đấy là lần đầu tiên tôi biết thế nào là kem, là cái lạnh đầy cảm giác mạnh của kem. Trong khi người nhà dẫn tôi lên gác, lựa lúc không ai để ý, tôi bèn liệng chiếc kem qua ô cửa sổ bên cầu thang, ra mái nhà hàng xóm. Mấy ngày sau ai bảo tôi ăn kem tôi đều từ chối! Cây kem lạnh thật đáng sợ! Tôi thấy lạ là sao nhiều người lại thích kem, mất tiền mua kem và ăn kem ngon lành đến thế !
Những ngày đầu ra Hà Nội, tôi nhớ quê da diết nên đêm đêm thường dụi đầu vào gối mà khóc rấm rức. Ban ngày tôi một mình lần theo các phố từ gần đến xa để xem những điều mới lạ, để quên bớt nỗi nhớ quê hương. Tôi phải đánh dấu từng góc đường để không bị lạc. Chừng một tuần sau là tôi đã ra tới bờ hồ Hoàn Kiếm. Tôi đứng trên cầu Thê Húc ngắm nhìn bốn phương tám hướng. Hồi ấy tôi chưa có được cái nhìn lãng mạn, cái nhìn thi sĩ như bây giờ, nhưng tôi cũng đã thấy được cái vẻ đẹp diệu kỳ mà thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất rồng bay. Nếu cứ kể ra đây những gì mà tôi cảm nhận được về sự mới lạ, về vẻ đẹp và nét hào hoa của Hà nội thời bấy giờ thì nhiều, nhiều lắm. Tôi ngỡ ngàng trước những quầy hàng đủ màu đủ sắc, bán từ những cái không ngờ như chiếc tăm tre, quả cà pháo hay những tờ báo, quyển sách mà tôi hằng ao ước, cho tới những thứ mà tôi chưa bao giờ biết đến như chiếc quạt trần hay chú tò he ... Cho tới lúc ấy, Hà Nội đối với tôi là một thế giới hoàn toàn khác lạ, như thể tôi lạc tới cung trăng. Bao nhiêu điều lạ lẫm và khó hiểu. Tôi lạ lùng với chiếc xích lô. Tôi tò mò với cái thùng di động mà người ta vừa la hét vừa quay tay chiếu cuốn phim "Công phá Béc lanh" cho bọn trẻ, quanh hồ. Tôi không thể nào hiểu được tại sao các bà các chị mỗi khi ra đường, dù chỉ là ra chợ mua mớ rau cũng phải điểm trang, cũng phải mặc áo dài tha thướt, chỉnh tề. Họ điệu đàng, đài các quá chăng? Nhưng cái mà tôi cảm nhận được là nhà cửa, phố phường luôn sạch sẽ, phong quang, không nhếch nhác, luộm thuộm như ở "nhà quê". Hồi ấy người ta không phơi phóng tùm lum bát nháo như bây giờ, càng không thể có cảnh đồ lót treo "vô tư" trên đầu người qua lại. Ngay trong các cửa hàng cũng không ai bày bán công khai các thứ "nội y". Có lẽ hồi ấy người Hà Nội luôn thuộc nằm lòng câu ca dao truyền thống của quê hương:
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.
Câu ca dao ấy như một lời khen, lại như một lời động viên, như một lời nhắc nhủ người Hà Nội-Tràng An sống sao cho xứng với mảnh đất rồng bay. Nếu không có hương thơm thì đâu phải giống hoa nhài? Nếu không thanh lịch thì đâu xứng là người Tràng An-Hà Nội? Không phải như ai đó đã viết trên một tờ báo, cho rằng câu ca dao trên là lối tự hào kệch cỡm, thiếu văn hóa; là lối khoe khoang, vỗ ngực nhặng xị! Đó là một cách nhìn, một góc nhìn chủ quan phiến diện, nhìn ngược chiều ánh sáng.
Đã năm mươi năm có lẻ. Bây giờ Hà Nội khác xưa nhiều lắm. Nội thành đã trải rộng ra gấp ba bốn lần, ngoại thành càng rộng càng to hơn nữa. Hà Nội ngày nay đã bao gồm cả thành Cổ Loa nằm bên kia sông Hồng, sông Đuống với trên hai nghìn năm lịch sử, với chín lớp thành xoáy trôn ốc lừng lẫy một thời. Hà Nội bây giờ đã vươn lên ôm trọn dãy Ba Vì, nơi lưu truyền Thánh Tản, đã bao gồm cả mảnh đất Xứ Đoài với làng Đường Lâm cổ kính, nơi sinh thành hai vị quân vương. Hà Nội bây giờ đã bao gồm cả thắng cảnh chùa Hương. Bây giờ khó mà có một người biết hết được mọi ngóc ngách Hà nội như xưa. Hồi ấy, những năm năm mươi cho tới những năm đầu thập kỷ chín mươi, ngôi nhà cao nhất của Hà Nội là nhà in báo Nhân dân ở phố Tràng Tiền cũng chỉ cao đến sáu tầng, kể cả tầng mái. Bây giờ đã có nhiều ngôi nhà cao gấp bốn, năm lần và trong tương lai không xa sẽ có những ngôi nhà cao gấp tới chục lần ngôi nhà cao nhất ấy. Hà Nội đã vươn rộng, vươn xa và vươn lên cả tầm cao để sánh vai cùng thành phố Hồ Chí Minh, cùng các siêu đô thị và thủ đô trên thế giới. Mới chỉ hai thập niên đổi mới mà Hà Nội đã có được dáng vóc bề thế đúng nghĩa "rồng bay". Ai mà chẳng vui, ai mà chẳng thấy lâng lâng khi ngắm nhìn Hà Nội hôm nay? Cái vẻ mặt, cái dáng vóc của thủ đô đã dần dần đổi thay để xứng với tầm cao đất nước, xứng với câu nói của Bác năm xưa: "Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!".
Tuy nhiên với Hà Nội hôm nay, bên cạnh cái được còn có cái gì đó chưa được, điều mà với mỗi người Tràng An thuần khiết không thể không bận tâm, trăn trở. Đó là "nét Tràng An" liệu có còn không?
Có người cãi rằng Hà Nội không phải là Tràng An, chưa bao giờ mang tên Tràng An! Đúng vậy, Tràng An không phải là Hà Nội mà là tên một đô thị từng là đế đô bên nước láng giềng. Nhưng từ xa xưa ông cha ta coi hai chữ "Tràng An" như là đồng nghĩa, như là biểu tượng của một đế đô. Mà Hà Nội là một đế đô suốt cả nghìn năm và bây giờ là một thủ đô văn minh hiện đại, tiếng tăm lẫy lừng khắp năm châu bốn biển. Vậy Hà Nội đồng nghĩa với Tràng An. Đã thành một thói quen, ở Việt Nam nói đến "người Tràng An" chính là nói đến người Hà Nội. Nói đến "nét người Tràng An", tức nét người Hà Nội, là nói đến sự thanh lịch điển hình như "khuôn vàng thước ngọc" mà đâu đâu cũng muốn noi theo. Từ câu chào hỏi, từ cách xưng hô đến cách ăn mặc, cách đi đứng; từ cử chỉ, từ lời ăn, tiếng nói, đến cách đối nhân xử thế; từ việc nhỏ cho tới việc lớn, tất tần tật đều được người Tràng An-Hà Nội làm một cách chuẩn mực, không xô bồ tùy tiện và bạ chăng hay chớ. Đó là phong thái, là nét thanh lịch truyền thống đặc trưng của người Tràng An-Hà Nội, được đúc kết và mài dũa tự bao đời. Người "nhà quê" chúng tôi bao giờ cũng soi vào đó mà làm gương để dạy dỗ cháu con nên người ...
Vậy mà, bây giờ... Chao ôi, đời sống ngày càng đi lên, xã hội ngày càng văn minh, càng hiện đại, sự học ngày càng cao, tầm nhìn ngày càng rộng mở... nhưng những nét đẹp có tự xa xưa của người Tràng An-Hà Nội nay bỗng như dần dần rơi rụng đi đâu mất! Bây giờ đi ra đường ta gặp bao cảnh nhí nhố, bao điều chướng tai gai mắt. Từ cách xưng hô cộc lốc, từ lối nói tục chửi thề, đến cách ăn mặc tùy tiện, kể cả mặc đồ lót ra đường ... đã trở nên phổ biến như một tập quán, một cốt cách thời thượng! Thiếu nhường trên nhịn dưới, chỉ biết sống vị kỷ, bon chen, coi vật chất là trọng... và còn bao thói hư tật xấu bỗng nhiên cứ loang dần, loang dần trên mảnh đất nghìn năm văn hiến! Tôi có nói quá lên chăng? Tôi có bi lụy quá đi chăng? Xây dựng nên một truyền thống là một việc lâu dài, nhưng phá vỡ nó đi thì nhanh chóng lắm. Bộ mặt Hà Nội được xây dựng lại và phát triển đi lên chỉ trong vài thập kỷ, nhưng nét người Hà Nội biết đến bao giờ mới lại có được sự thanh lịch đậm bản sắc văn hiến nghìn năm mà ông cha dày công vun đắp? Xin đừng đổ lỗi cho chiến tranh. Chín năm kháng chiến, Hà Nội bị tàn phá nặng nề mà sao người Hà Nội vẫn giữ được nét Tràng An? Bây giờ chiến tranh đã lùi xa trên ba thập kỷ, thời gian đâu phải là quá ngắn!
Hà Nội đang mùa thu, mùa đẹp nhất trong năm. Có một nhà thơ bạn tôi từng nói với tôi rằng những lần xa Hà Nội anh đều ao ước được trở về thủ đô vào những ngày thu. Anh không muốn xa Hà Nội vào những ngày mùa thu mà anh yêu như một tình yêu. Anh cho rằng mùa thu ở đâu cũng đẹp, nhưng mùa thu ở Hà nội có cái gì đó vượt trội mà không đâu sánh được. Phải chăng đó là hương cốm làng Vòng, là hương nhài Ngọc Hà Quảng Bá, là bánh tôm hồ Tây những chiều lắng dịu? Phải chăng đó là rặng liễu xanh tha thướt, hay tấm mành hoa lộc vừng buông soi trên mặt nước hồ Gươm? Phải chăng đó là bởi cái mầu xanh Hà Nội, với Hoàn Kiếm là "Hồ Gươm xanh, xanh mãi liễu buông xanh"; với hồ Tây là "Trời xanh biếc, mặt hồ xanh vời vợi / Hương nhài vương từng lối cỏ ngất ngây"... Tất cả, tất cả những điều trên đều đúng, nhưng có lẽ nổi bật nhất là bởi tại mầu xanh. Khác với vẻ đẹp non tơ mơn mởn của mùa xuân, mầu xanh của mùa thu có cái gì đậm đà khỏe khoắn, đầy sức sống. Mầu xanh của cây lá hòa giữa mầu xanh của bầu trời, in trên mầu xanh của nước hồ phẳng lặng như lắng sâu vào cõi tâm hồn. Bao nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ đã ngợi ca mùa thu Hà Nội hẳn là điều tất yếu. Nhà thơ mà tôi vừa nói tới đang ấp ủ làm một tuyển tập thơ về mùa thu, đặc biệt là những bài về mùa thu Hà Nội. Ý tưởng của anh rất dễ thành sự thật vì anh đã khai thác được một mạch nguồn vô cùng vô tận. Có hàng trăm hàng nghìn thi sĩ qua bao thế hệ đã viết nên những áng thơ tuyệt cú về Hà Nội mùa thu. Họ đã viết và còn viết tiếp không ngừng.
Ôi, tôi viết quá dài rồi nhỉ? Ngọn bút trên tay tôi như không thể nào dừng lại khi trong đầu tôi biết bao điều ào ào ập đến. Có bao nghĩa bao tình muốn được nói ra. Có bao nhiêu nỗi niềm cần được tỏ bày bởi tình yêu Hà Nội. Có bao điều nghĩ suy và trăn trở về một thủ đô đang trên đường đổi mới. Nhìn con đường, góc phố, hàng cây; nhìn dòng xe, cửa hàng, công viên, rạp hát ... đâu đâu cũng có điều để nhớ, để bàn, để thương và cả để giận hờn ...
Đang mải nghĩ suy và đưa bút thì bỗng đâu nhà bên lại mở to tiếng nhạc. Cô ca sĩ vẫn cất cao tiếng hát "...Hà Nội mến yêu của ta, thủ đô mến yêu của ta, là ngôi sao mai rạng rỡ...". Tôi lặng yên nghe hát, quên cả dòng tâm tư đang cuộn chảy.
Cám ơn nhạc sĩ Phan Nhân đã nói hộ lòng tôi./.

9/2005

Không có nhận xét nào: