Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Chợt đã thu tràn năm cửa ô

Chợt đã thu tràn năm cửa ô

-Tuỳ bút-


Dạo này trời Hà Nội đã xanh trong dìu dịu. Hình như gió cũng đổi chiều. Bất chợt bóc tờ lịch thấy hai chữ “thu phân”! Ồ, thì ra đã giữa mùa thu! Thế là cái mùa hè bức bối, nhớp nhúa và khét lẹt mùi mồ hôi đã lùi xa tít phía sau lưng. Cái mùa thu dịu dàng, xanh tươi và mát mẻ, cái mùa thu mà tôi luôn mong đợi đã vào chính vụ. Chỉ có từ tiết “thu phân” khí hậu nơi đây mới thật là thu. Không còn nắng gắt, không còn oi bức. Chỉ có dìu dịu mát lành. Chỉ có cao xanh vời vợi. Không như các bạn trẻ, những người “có tuổi” thường rất ngại mùa hè. Người già thường khó ngủ. Mà càng nóng bức thì càng khó ngủ. Dùng quạt không hết nóng, lại ho. Có tiền sắm máy lạnh thì sợ cái sự nóng lạnh thất thường có khi sinh bệnh. Sự thay đổi nhiệt độ dễ làm cho người già đột quỵ lắm. Cái nóng của mùa hè Hà Nội cũng khác xa cái nóng ở Sài Gòn. Đi trên đường phố Sài Gòn suốt buổi không thấy mồ hôi. Nhưng ngồi trong phòng ở Hà Nội mồ hôi vẫn tứa ra ướt áo. Những người từ Sài Gòn ra cứ phàn nàn là tại sao trong ấy nóng hơn mà lại không khó chịu như ở ngoài này. Phải chăng vì độ ẩm ở Hà Nội rất cao? Người bị bệnh thấp khớp mà vào Sài Gòn sống thì ít bị đau hơn hẳn ngoài Hà Nội là vì vậy. Có lẽ vì cái sự ẩm ướt mồ hôi này mà tôi luôn có thành kiến với mùa hè Hà Nội. Nếu điều này có làm cho một số bạn nào đó, đặc biệt là các bạn trẻ phật lòng vì các bạn thường mong mùa hè để đi pic nic, đi lội biển, đi trèo non, thì xin các bạn xá tội cho. Tuy nhiên, bù lại cái sự không thích mùa hè Hà Nội thì tôi lại rất yêu mùa thu Hà Nội và luôn luôn nghĩ rằng không có một nơi nào trên trái đất này có thể có một mùa thu đẹp như mùa thu Hà nội. Thiển cận quá chăng? Lệch lạc quá chăng? Hay cực đoan quá chăng? Mùa thu Hà Nội có cái gì đó na ná mùa hè châu Âu, đủ mát để đi đầu trần dưới nắng giữa trưa, đủ ấm để bơi lội từ ban mai cho đến cuối chiều; xanh mướt những hàng cây lộng gió, rực rở màu hoa trên mọi ban công, trần thượng, công viên.
Thế là bất chợt thu tràn về năm cửa ô Hà Nội. Thu về như luồng gió cách mạng Tháng Tám Bốn lăm năm nào thổi tung bay ngọn cờ đỏ sao vàng trên ban công nhà hát lớn. Thu về như đoàn quân giải phóng từ Điện Biên trở về, rầm rập tràn vào năm cửa ô hồi Tháng Mười năm tư oanh liệt. Tôi chào đón mùa thu với tất cả niềm vui xao xuyến ấy. Một ngọn gió ban mai mát rượi. Một làn sương rất mỏng nhè nhẹ buông trên tán cây xanh như chiếc khăn voan trùm lên mái tóc huyền cũng bật lên một tứ thơ:
Ban mai rười rượi thu vừa chớm
Gió lạc vườn ai bởn trái hồng
Khóm trúc dáng chừng đang độ lớn
Ngở ngàng lối ngõ đẩm hơi sương...
Trên con đường uốn lượn ven hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, hay giữa Quảng trường Ba Đình, từng đoàn, từng nhóm người đang say sưa tập những động tác thể dục hoặc đi bộ. Họ hít thở làn không khí trong lành, mát rượi, điều mà suốt cả mùa hè họ hằng mong ước. Tiếng loa của đài truyền thanh vẫn vang lên bản nhạc hiệu :
“Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm…”
Tiếng loa như thôi thúc, như gợi nhớ về một quá khứ hào hùng, về một thủ đô xinh tươi và tràn trề sức sống. Bao năm rồi mà mỗi lần nghe tiếng nhạc hiệu vang lên tôi lại vẫn có cảm giác như mới lần đầu. “Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội …” Tiếng loa nhắc ta về mảnh đất mà ta đang sống, về những gì đã làm cho sông núi lắng hồn suốt nghìn năm qua. Một nghìn năm, một nghìn mùa thu với biết bao mùa thu đáng nhớ của người Hà Nội, của người Việt chúng ta!
Mùa thu! Có thể nào khi nghĩ tới mảnh đất Thăng Long lại không nghĩ tới mùa thu ? Phải chăng khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về đây (tháng 7 năm Thuận Thiên nguyên niên 1010), đoàn thuyền của ông cũng căng buồm trong làn gió thu xanh lồng lộng, trong dòng nước ăm ắp của mọi ngã sông và khi ấy ông cũng đã tiên liệu đây là nơi thánh địa? Là người Cổ Pháp (Bắc Ninh), chỉ cách thành Đại La chừng mươi dặm đường, chắc ông đã từng yêu mến cảnh sắc nơi đây nên mới chọn làm kinh đô Đại Việt và đặt tên là Thăng Long để chỉ thế rồng bay? Phải chăng khi Lê Thánh Tông cùng “Tao đàn nhị thập bát tú” ngồi đàm đạo thơ văn ở Quốc Tử Giám cũng thường vào những buổi chiều gió thu dìu dịu, dưới gốc hoàng lan thơm ngát, hay bên gốc đại già hoa xoè trắng muốt? Là một người yêu thơ tôi biết không có thời điểm nào gợi mở những tứ thơ bằng những khoảnh khắc mùa thu. Và cũng không đâu gợi mở hồn thơ bằng Hà Nội giữa trời thu.
Này nhé, ta hảy xem sự gợi mở ấy đã tác động đến thi nhân trong buổi sáng “chớm thu”:
Mây bông lặng vén rèm che mỏng
Để nắng non nghiêng liếc trộm vườn
Hàng cúc xốn xang gờn gợn sóng
Hình như trời đất biếc xanh hơn!
Thi nhân thường thấy mùa thu bao giờ cũng xanh hơn, trong sáng hơn và xao xuyến tâm hồn hơn. Mùa hè cũng có tứ thơ mùa hè, mùa đông cũng có tứ thơ mùa đông, và mùa xuân càng có nhiều tứ thơ về mùa xuân; nhưng có lẽ không mùa nào có được những vần thơ sống động và bay bỗng như những vần thơ về mùa thu, đặc biệt là mùa thu Hà nội.
Em có đón thu về – thu Hà Nội
Sao chiều nay em chẳng tới Hồ Tây ?
Trời xanh biếc, mặt hồ xanh vời vợi
Hương nhài vương từng lối cỏ ngất ngây …
Và cũng trong bối cảnh mùa thu ấy, khi ta ở Hồ Gươm, đến bên khóm lộc vừng chín gốc ta lại có một cảm giác lâng lâng:
Thu Hà Nội trời xanh vương mây trắng
Khóm lộc vừng đón nắng sắc long lanh
Ta muốn đứng dưới mành hoa thầm lặng
Đợi chờ ai …
Một ngọn gió trong lành !
Mùa thu Hà Nội đẹp và thơ là thế. Bạn hãy thử một lần đạp xe thong thả trên đường Trần Hưng Đạo, Trần Phú hay đường Phan đình Phùng dưới hàng sấu xanh ngắt, điểm những trái vàng ươm nhỏ xíu để nghĩ về những hạt cốm Vòng trải trên lá sen xanh; hay đi trên đường Lò Đúc dưới những hàng sao đen cao vút để cảm thấy cái màu xanh lồng lộng và mát lành của bầu trời thu trong vắt. Tiếc là bây giờ nơi đây không còn những đàn cò trắng chiều chiều về tổ ríu tít một góc trời! Và bạn hảy ghé qua đường Nguyễn Du bên bờ hồ Thiền Quang để cảm nhận cái mùi thơm hăng hắc của những chùm hoa sữa mà đã có vài nhà thơ, nhạc sĩ say mùi. Thật lòng mà nói thì riêng bản thân tôi, tôi không thích hoa sữa lắm. Đó là một loại hoa mà ta luôn phải giữ một khoảng cách an toàn cần thiết như khi ta tiếp xúc với những bà mệnh phụ phu nhân đài các quá lạm dụng mùi nước hoa. Xa xa thì thấy thoảng hương thơm ngạt ngào quyến rũ, nhưng đến gần thì mùi hương ấy trở nên quá hăng hắc không sao chịu nổi. Tôi không tán thành với những ai coi hoa sữa như là một loài hoa đặc trưng của Hà Nội. Nghe đâu có một vài thị xã và thành phố từ vùng đông bắc tới miền trung bị ám ảnh bởi cái hư danh của mùi thơm hoa sữa, đã đem trồng dày đặc trên suốt nhửng đường phố thẳng tắp mới chỉnh sửa của mình, để rồi mấy năm sau khi hoa sữa bắt đầu nở rộ, dân chúng kêu trời không thể nào chịu nổi đành lại mất công nhổ bỏ đi! Vậy thì làm sao có thể coi hoa sữa là loài hoa đặc trưng của mảnh đất Thăng Long thanh lịch?
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An
Phải là mùi thơm dịu dàng và tinh khiết của hoa sen, hoa nhài mới có thể tạm được coi là đặc trưng cho Hà Nội. Hoa sen bên Phủ Tây Hồ và hoa nhài trên vườn Ngọc Hà, Quảng Bá… Tuy nhiên, với bản thân tôi, tôi coi hoa sấu và trái sấu trong một giới hạn nào đó là đặc trưng của đất Hà thành. Vào cuối mùa xuân, hoa sấu nở trắng cành và rơi thành tấm thảm dày trải trên mặt đất. Mùa hè, trái sấu xanh non, chua chua dầm vào bát nước rau hay nồi canh cá, canh sườn thì các món đặc sản sơn hào hải vị cũng khó lòng cạnh tranh. Và mùa thu, những trái sấu chín vàng, ướp muối, ướp đường sẽ cho ta một cốc nước giải khát cũng khó có gì sánh kịp. Mà những thứ này hầu như chỉ có ở nơi đây. Vào Huế, vào Sài Gòn mà nhắc đến trái sấu thì không ai là không thèm, không ai là không mơ về Hà Nội, mơ về mùa thu Hà Nội .
Nói đến mùa thu Hà Nội không thể không nói đến cây lộc vừng. Nhiều lúc tôi cũng thật sự ngạc nhiên vì có khá nhiều người Hà Nội chính gốc mà không biết đến cây lộc vừng này. Những năm gần đây lộc vừng đã trở thành một loại cây cảnh mà dân “sành điệu” đua nhau kiếm tìm. Nhưng chừng mươi năm về trước rất ít người biết đến, ngoại trừ mấy ông nhà thơ, nhiếp ảnh gia hay hoạ sĩ. Cũng đúng thôi vì cây lộc vừng hồi ấy còn rất hiếm. Quanh bờ hồ Hoàn Kiếm có một cây lộc vừng ở phía đường Đinh Tiên Hoàng, đối diện ngã ba Trần Nguyên Hãn. Và đặc biệt là một khóm lộc vừng chín gốc bên mé hồ, cách cầu Thê Húc chừng trăm mét. Vào mùa xuân, lá lộc vừng xanh non, hơi ngiêng về màu nâu tím, mơn mởn, có thể ăn sống rất ngon lành. Mùa hè lá xanh ngắt, át cả cái nắng chói chang rát bỏng. Đặc biệt là vào mùa thu, lộc vừng cho những chuổi hoa ken dày, tạo nên những bức mành hoa vô cùng đẹp mắt. Chẳng thế mà đã có rất nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh tốn hàng chục hàng trăm cuộn phim, nhiều hoạ sĩ tốn hàng lô sơn màu phấn mực, nhà thơ tốn cơ man giấy bút để mô tả cái vẻ đẹp diệu kỳ của khóm cây hoa đặc biệt này. Với tôi, cây lộc vừng có một nét gì đó rất thân quen. Đó chắc chắn là một giống cây “ngụ cư” vì nếu nó có gốc gác ở Hà Nội thì chắc không đến nổi hiếm hoi như vậy. Nó “tha hương” đến sống ở nơi đây, bám đất và trưởng thành ở nơi đây, đồng thời góp phần làm đẹp cho mảnh đất này.
Chín cây mọc thành một quần thể lạ
Chín cuộc đời nương tựa lẫn đua chen
Thành khóm nhỏ bên bờ xanh lộng gió
Mỗi lần qua ai chẳng ngước mắt nhìn !
….
Nếu Hoàn Kiếm là biểu trưng Hà Nội
Thì lộc vừng là nét nhấn Hồ Gươm
Dẫu miền ngược miền xuôi phiêu dạt tới
Bám đất rồi tha thiết một miền thương !
Cũng như khóm lộc vừng chín gốc kia, chúng tôi cũng là dân “ngụ cư”, chúng tôi từ muôn phương quy tụ về đây, nương tựa vào nhau, đua chen nhau để trụ lại nơi này, biến một mảnh đất xa lạ thành quê hương thứ hai của mình, rồi yêu mến, rồi gắn bó máu thịt và làm tất cả để cho quê hương này trở nên tốt đẹp hơn, đáng yêu hơn. Chính ngọn gió của mùa thu Tháng Tám, ngọn gió của mùa thu Tháng Mười đã gom chúng tôi từ mọi miền đến với thủ đô, đến với trái tim chung đất nước.
Mùa thu, cái mùa đẹp nhất của một năm, cái mùa đẹp nhất của Thăng Long - Đông Đô – Hà Nội đã trở lại nơi đây. Tôi háo hức đón chờ như đón chờ ngày kỷ niệm Thủ đô giải phóng; háo hức đón chờ như đón chờ mùa kỷ niệm một nghìn năm khai sinh đất rồng bay…


2004

Không có nhận xét nào: