Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2009

Bằng Lăng Tím

Bằng Lăng Tím

-Truyện ngắn-



Tình cờ họ gặp lại nhau trong một nhà hàng. Bốn mắt nhìn nhau, ngờ ngợ rồi sững lại như chết lặng. Chỉ là trong chốc lát. Chị vờ quay đi, làm việc bình thường như không nhận ra anh. Anh cũng gục mặt vào cốc bia đầy bọt, vờ như không thấy chị. Nhưng rồi thỉnh thoảng như vô tình họ lại liếc trộm nhau để nhìn lại một dáng dấp xa xưa. Chiều thứ bảy, nhà hàng chật ních. Chị tất bật chạy vào chạy ra như con thoi. Tiếng khách hàng gọi, tiếng bà chủ thúc giục làm chị rối cả bàn chân. Chị cứ thấy bên gáy mình nóng ran như có một tia lửa rọi vào. Chị muốn trốn chạy mà không được, đành phải chấp nhận một “thực tế khách quan” như một tai nạn bất ngờ. Còn anh, anh cứ uống bia, hết cốc này đến cốc khác mà hầu như không hề có một chút hương vị nào tác động tới “trung khu thần kinh vị giác”. Bạn bè cứ nói năng ầm ào, cứ cười đùa tán phét như mọi ngày, mãi mới phát hiện ra vẻ mặt trầm tư khang khác ở anh. Nhưng họ làm sao hiểu được những gì đã diễn biến trong lòng anh, dù đó là một cơn bão, một đợt sóng thần khó lường cấp độ? Anh cứ ngồi uống bia, nấn ná cho tới giờ vãn khách, hy vọng có một điều gì “đột biến”. Nhưng khi cánh cửa nhà hàng đã khép lại một bên, nhiều bóng đèn đã được tắt bớt, những dấu hiệu ngầm nhắc khách ra về, thì anh không còn thấy bóng dáng chị đâu. Dắt xe ra đường anh mới lờ mờ nhận thấy mình không còn làm chủ được chính bản thân mình! Một người bạn đã phải vực anh lên tắc xi, còn chiếc xe tạm gửi lại nhà hàng. Đó là lần đầu và duy nhất anh bị bia hạ gục! Mấy hôm sau anh đều đến nhà hàng nhưng không bao giờ còn nhìn thấy chị! Phải chăng cuộc gặp lại ấy chỉ là một cơn mê, một ảo ảnh không hề tồn tại?
Thành phố này thật rộng lớn. Từ Phú Lâm lên tới Thanh Đa xe máy chạy nửa giờ chưa tới. Chỉ là một lần tình cờ gặp bạn bè, mời nhau đi nhậu mà anh mới ghé nhà hàng Bằng Lăng Tím, chứ đã bao giờ anh biết đây đâu. Nhưng tưởng chỉ một lần, thế mà liên tục ngày ngày anh phải vượt quãng đường xa lắc xa lơ chỉ đến đây để ngồi một mình uống một cốc bia. Đúng là “của một đồng mà công một nén”! Nhưng đâu phải vì bia nhà hàng này ngon hơn các nhà hàng khác? Anh tới đây để “phục kích” một bóng người. Nhưng cá đã lặn mất tăm, không còn đâu dấu vết!
Cuộc đời này cũng lạ, từng dư chục năm liền chị cố công tìm kiếm anh, thế mà giờ đây đột nhiên gặp anh chị lại tìm đường lẩn tránh như chính mình trốn chạy! Bao năm rồi chị ao ước được nhìn thấy anh, được nắm tay anh và được gục vào lòng anh để ... khóc! Chị đã lặn lội vì anh suốt bấy năm ròng! Có người nói anh đi Sơn La, chị đã lên Sơn La. Người khác kể đã thấy anh lên xe đi Cao Bằng, chị cũng lên theo. Nhưng thị xã Sơn La và thị xã Cao Bằng tuy nhỏ nhưng biết tìm đâu một bóng người khi mà “chim ăn bể Bắc lại tìm bể Đông”! Từ Cao Bằng chị lần xuống Lạng Sơn, rồi ra Quảng Ninh, Hải Phòng, những nơi mà bạn bè dự đoán hay mách bảo. Có một chút ít “đồ tế nhuyễn của riêng tây” chị “sạch sành sanh... bán” để làm cuộc du hành vô định. Chị đã qua hết miền Trung, lên Buôn Mê Thuột rồi về Đà Lạt, xong lại tới tận Cần Thơ. Khi nhẵn túi, chị đành dừng lại cái thành phố đầy hỗn tạp và xô bồ này để vừa kiếm ăn vừa ... hy vọng! Chừng 2 năm trước, bất ngờ chị thấy anh đang phóng xe ngang qua phía bên kia đường, chị ngớ ra, hét toáng lên, nhưng mà quá muộn. Từ ấy chị tràn trề hy vọng, ngày ngày lại ra góc phố ngóng trông mỗi khi rãnh rỗi. Thời gian cứ trôi đi vô ích, đâu còn bóng người xưa . Từ hy vọng dần dần thành thất vọng, từ thất vọng dẫn tới chán chường, từ chán chường thành ra oán hận... Gần một năm nay chị đã cố quên đi, cố xua đi hình bóng người ta, cố dựng lên hình ảnh người ta như một hình âm bản. Có thể người ta đã hoàn toàn quên chị, có thể người ta đã hoàn toàn thuộc về kẻ khác và chẳng còn một chút đoái hoài tới chị. Vậy mà chị đã điên rồ và dại dột biết bao khi tự chuốc lấy vất vả gian nan, khi tự để phí hoài một nửa cuộc đời để đi tìm người ấy! Thế mà khi đã cố quên đi tất cả, khi đã thay đổi được tấm phim dương bản thành ra âm bản, bỗng chốc lại gặp người ta như một kiểu trêu ngươi cùng số phận!...
Thuở chị vừa ngấp nghé đôi mươi, chị đã thi vào trường Điện ảnh. Mọi người đều khen chị đẹp, từ dáng dấp tới chi tiết đều không chê vào đâu được. Chị lại rất “ăn ảnh” điều mà nghề diễn viên điện ảnh rất cần. Thế nhưng có lẽ tại vì chị quá xinh đẹp mà không gian bao quanh chị luôn sôi động, luôn ồn ào nên chị không sao tập trung cho kỳ thi tuyển với toàn những môn cần học thuộc! Sắc đẹp không giúp cho chị bước được vào ngưỡng cửa trường đại học. Là “con gái rượu” của một gia đình khá giả, chị được cha mẹ nhanh chóng lo cho một chỗ làm ưng ý. Chị làm lễ tân tại một khách sạn bậc nhất thủ đô. Cũng phải nói thêm một điều là thời gian ấy chưa “mở cửa” như bây giờ, số khách sạn ở Hà Nội chỉ đếm trên đầu ngón tay, nghề “lễ tân” còn rất xa lạ với mọi người. Đó là một nghề không vất vả, nhưng cũng không kém phần phức tạp. Chị phải tiếp xúc với nhiều loại người, thuộc nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, với nhiều phong tục tập quán rất khác nhau. Với ai chị cũng phải luôn tươi cười lịch sự, luôn cố gắng làm vừa lòng tất cả. Nó là một “đặc trưng nghề nghiệp”, dù thích dù không cũng phải đành chấp nhận.
Trước khi đi làm, chị đã yêu anh. Anh là một kỹ sư xây dựng, hơn chị gần 7 tuổi. Không như chị, anh sinh trưởng trong một gia đình nông thôn, nghèo và mồ côi cha từ bé. Mẹ anh đã “đi bước nữa”. Học xong phổ thông, thi đại học không đậu, anh đi nghỉa vụ quân sự 3 năm, khi trở về anh lại quyết tâm thi vào đại học. Khác với thời bây giờ, hồi ấy một học sinh nghèo vẫn có thể dễ dàng vào đại học nếu chịu chuyên cần và nắm vững nhửng kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa, không phải lo học thêm học nếm. Môi trường quân đội đã giúp anh tính kiên nhẩn, ý chí và nghị lực để thắng lợi. Hợp tác xã địa phương giúp đỡ, chu cấp cho anh tiền ăn học vì anh là con liệt sĩ. Vả lại hồi ấy muốn thi vào đại học không phải tốn kém nhiều như bây giờ. Vào đại học, anh được cấp học bổng, tuy ít nhưng cũng đủ để sống qua ngày. Sau khi tốt nghiệp anh lại may mắn được phân công ngay về một Viện thiết kế, không phải lo “chạy chọt” tìm kiếm việc làm. Thế là anh trở thành “người thành phố”. Anh tình cờ gặp chị trong một đêm dạ hội và cắm trại nhân ngày thành lập Đoàn ở vườn Bách Thảo. Có thể nói, anh chị đã yêu nhau từ “cái nhìn đầu tiên”, tuy nhiên mãi sau ngày chị thi xong anh mới dám ngỏ lời. Khi chị đi làm khách sạn anh không bằng lòng, nhưng anh tôn trọng “quyền tự quyết” của chị. Như mọi đôi khác, họ cũng có đủ những giây phút hạnh phúc tràn trề, những giận hờn trách móc và cả những lúc sóng gió tưởng tan tành. Nhưng tất cả chỉ là “gia vị” của tình yêu, nó làm cho tình yêu càng thêm thi vị, càng thêm thử thách, càng thấy yêu hơn. Cha mẹ chị không được vừa ý về anh vì họ cảm thấy không “môn đăng hộ đối”, nhưng vì chiều con nên họ cũng miễn cưỡng chấp nhận anh. Mọi chuyện tưởng chừng như hoàn toàn tốt đẹp. Hạnh phúc tưởng đã trong tầm tay...
Bỗng nhiên anh bị đình chỉ công tác, có thể bị đưa ra toà! Tin đến với chị như một đòn sét đánh. Một công trình do anh thiết kế cho một địa phương bị sụp đổ ngay trong lúc thi công. Bước đầu người ta cho rằng giải pháp do nhà thiết kế đưa ra là không hợp lý nên mới gây nên hậu quả nghiêm trọng này. Hai tháng trời chờ đợi xác minh, anh tự giam mình trong bốn bức tường căn nhà tập thể. Chị đến an ủi động viên anh nhưng không làm anh lấy lại được thăng bằng. Trong những ngày này anh bỗng hiểu ra được nhiều điều về cuộc đời mà anh chưa từng biết. Nhiều người trong Viện đã không thông cảm thì chớ lại còn tìm cách bôi xấu thêm. Lúc này mới thấy rõ những kẻ ganh ghét đố kỵ cố “ra tay” để hạ gục anh bởi vì họ sợ anh sắp chiếm mất cái ghế trưởng phòng mà họ hằng ao ước. “Giậu đổ thì bìm leo” là vậy! Hai tháng sau thì anh được minh oan. Tất cả đều do bên thi công, dùng vật liệu không đảm bảo chất lượng yêu cầu. Nhưng “chờ được vạ thì má đã sưng”, anh cảm thấy như mình đã rơi xuống đáy. Anh quyết định xin thôi việc. Lúc này “kinh tế thị trường” đã bắt đầu phát triển, xin việc làm rất dễ nên anh chẳng muốn “bám” lấy cái Viện đầy những kẻ cơ hội và thiếu tình người này. Một cơ quan nọ thuê anh làm một công trình tận Sơn La, anh nhận lời đi ngay. Đang háo hức lên đường “tìm một bầu không khí mới” anh vội đến khách sạn báo tin cho chị. Chị đang tiếp một ông khách trẻ trông như người Việt nhưng lại nói tiếng Anh. Chị ra hiệu cho anh ngồi chờ, trong khi ông khách vẫn thao thao bất tuyệt, bằng cả lời và bằng cả hai tay. Mặc dầu chị phải tươi cười nhưng rất ý tứ tránh né, ông khách vẫn cố tìm cách nắm tay, mắt lẳng lơ đưa tình trắng trợn. Tất cả không qua khỏi cái nhìn xoi mói của anh. Chờ chừng 5 phút mà anh như thấy cả một ngày! Anh đùng đùng đứng dậy, không nói không rằng, lặng lẽ bước ra khỏi khách sạn. Tối ấy anh cố tình đi vắng để không gặp chị. Hôm sau anh lên đường. Nếu chỉ là vì ghen thì có lẽ anh không xử sự “căng” như vậy. Cái chính là anh mặc cảm, cho rằng vì anh bị oan mà chị không còn tôn trọng anh! Không ai có thể ngờ cái sự nông nỗi và bồng bột ấy đã dẫn đến kết cục chia tay nhau suốt hơn chục năm liền! Anh bị cuốn hút theo các hợp đồng, các công trình, từ nơi này qua nơi khác, không phút ngừng ngơi. Khi chợt nhận ra sự vô lý của mình thì dường như quá muộn nên đành để buông xuôi. Anh có ngờ đâu chị vẫn yêu anh, chờ đợi anh, tìm kiếm anh suốt bấy năm trời!...
Hơn một tháng liền anh cứ đến quán uống bia và ngóng đợi. Chị đã đi làm nơi khác, cố lẩn trốn anh. Nhưng anh không thể ngờ từ trong một hẻm nhỏ chiều chiều vẫn có một ánh mắt hướng về Bằng Lăng Tím. Và đã không ít hơn một lần người ta thấy một chiếc xe ôm cố bám theo xe anh về tận Phú Lâm ...


2000

Không có nhận xét nào: