Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009

Cậu tôi

Cậu tôi



Tôi cũng không còn nhớ được là tôi biết mặt cậu tôi từ lúc nào. Khi mẹ tôi sinh tôi thì cậu còn “lang bạt kỳ hồ” tận đẩu tận đâu không ai biết được. Cách mạng Tháng 8, cậu tôi về tham gia lãnh đạo cướp chính quyền ở địa phương rồi lại đi đây đi đó tận đâu đâu trước khi định cư tại Kỳ Anh (Hà Tĩnh), tôi cũng không biết rõ. Tôi từng đi tản cư ra Nghệ An khi mới lên 5, về quê thì không có cậu, ngay sau hoà bình lập lại thì tôi ra Hà Nội cho tới tận bây giờ. Tôi chỉ đoán chừng là tôi gặp cậu lần đầu lúc tôi đã lên 3, vì khi cách mạng tháng 8 thành công tôi đã tròn 3 tuổi. Tính ra khoảng thời gian mà tôi có dịp gặp và gần cậu cho tới tận năm cậu 93 tuổi, lúc cậu đi vào cõi vĩnh hằng, cộng lại chỉ được độ một tháng là cùng. Vậy mà tôi lại rất thân thiết và yêu quí cậu, yêu quý cậu gần như yêu quý mẹ tôi.
Năm thì mười hoạ có dịp qua Kỳ Anh tôi mới gặp cậu trong chốc lát. Đôi khi cậu cũng có dịp ra Hà Nội nhưng do tôi đi học, đi bộ đội hay đi công tác liên miên nên cũng ít khi gặp. Thế nhưng tôi lại hay gặp cậu qua thư từ. Cậu có nhiều cháu nhưng được cái là tôi rất hợp với cậu ở chỗ thích thơ, biết làm thơ, đặc biệt là thơ Đường luật nên cậu rất quý tôi. Hồi cha tôi ở Quảng Bình và cả khi đã ra Hà Nội, cha tôi thường tham gia hội hè, giao lưu với các cụ nhà nho, suốt ngày ngồi xướng hoạ. Hễ có bài thơ hay của mình hoặc của các bạn thơ, cha tôi lại gửi ngay cho cậu để cậu hoạ. Ở Hà Tĩnh, cậu cũng có một hội xướng hoạ thơ như thế. Vậy là hai bên liên tục thư đi thư lại với hàng loạt bài thơ nóng hổi, từ thơ vịnh cảnh, vịnh tình, cho tới thơ cổ động, tuyên truyền và thơ châm biếm, thơ đả kích giặc Mỹ xâm lược. Nhiều bài thơ của các cụ sau khi xướng hoạ và phẩm bình đã được đăng tải trên nhiều tờ báo như Cứu Quốc, Độc Lập, Thống Nhất... Từ nhỏ cha tôi đã tập cho tôi làm thơ Đường luật và cha tôi đã không ngờ là tôi nhanh chóng trở thành một bạn thơ của các cụ. Tôi cũng cùng tham gia xướng họa với các cụ ngay từ thời còn ngồi ghế trường phổ thông. Vì thế tôi gần như là một “hội viên nhóc con” của cả mấy hội xướng hoạ gồm toàn bậc cao niên ấy. Hồi tôi mới vào bộ đội, đang đóng quân ở sân bay Cát Bi, cha tôi có gửi cho tôi một bài thơ nói về gia đình mình với 7 người con, toàn trai, trong đó có đầy đủ tên con cháu nhưng đều nói lên truyền thống gia đình và hàm ý khích lệ, động viên con cháu:
Tài ba lừng lẫy ngoài ba xứ
Danh tiếng vang truyền khắp bốn phương
Tôi đã có một bài thơ hoạ lại, được cha tôi chuyển cho tất cả các cụ xem. Chừng hơn tháng sau tôi nhận được thư cậu tôi gửi từ Kỳ Anh, trong đó có 2 câu mà tôi nhớ mãi:
Cương cháu làm thơ giỏi thế a
Lời tuy gần gũi, ý cao xa...
Xin bạn đọc lượng thứ cho, viết lại 2 câu thơ này không phải tôi có ý “mèo khen mèo dài đuôi” đâu mà chỉ là để chứng minh rằng cậu tôi rất quý tôi, vậy thôi. Chính vì sự yêu quý này mà có lần cậu tôi đã kể cho tôi nghe về một khúc ngoặt quyết định trong cuộc đời cậu, cũng nhờ một bài thơ! Trước hết, cũng xin được nói rõ một chút về cậu tôi: Cậu tôi là Nguyễn Đình Ngô, một cán bộ lão thành cách mạng, nay đã mất. Cậu là cha của liệt sĩ Nguyễn Hoàng Lưu, người đã từng phát minh ra chiếc thước tính Lô ga rít hình tròn, làm nên một cuộc cải tiến kỹ thuật lớn trong Binh chủng Pháo Binh, người được mệnh danh là “nhà khoa học không bằng cấp” từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ trước.
Chuyện cậu tôi kể là như thế này:
“... Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, do vừa biết chữ quốc ngữ lại vừa biết chữ Nho nên cậu được chọn làm thơ lại (thư ký) cho Tuần vũ tỉnh Quảng Bình là Tôn Thất Chữ. Thời gian này là lúc thực dân Pháp đang ra sức đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Chúng ráo riết truy lùng, bắt bớ, giam cầm và tra tấn dã man những người Cộng sản. Các nhà lao ở Vinh, Hà Tĩnh và ở Huế đều chật ních tù chính trị, vì vậy chúng đã chuyển một số tù nhân về giam ở nhà lao Đồng Hới.
Cậu còn nhớ, khoảng đầu năm 1933, cậu phải theo tuần vũ Tôn Thất Chữ đi thị sát nhà lao Đồng Hới. Khi đến khu biệt giam kín mít, Tôn Thất Chữ dừng lại trước hầm giam của một nữ tù Cộng sản. Đó là chị Võ Thị Ngọ, mới chưa tròn 20 tuổi. Chị Ngọ đã tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và bị bắt ngoài Hà Tĩnh rồi được chuyển vào đây. Trong một lần đấu tranh quyết liệt chống hành động dã man vô nhân đạo của bọn cai ngục, chị Võ Thị Ngọ đã dũng cảm dùng thanh củi đánh lại tên cai ngục Phô-cô-ni nên bị chúng tống vào khu hầm kín biệt giam này. Quen thói trăng hoa, thấy chị Ngọ trẻ trung xinh đẹp, Tôn Thất Chữ buông lời bỡn cợt, trêu ghẹo. Chị Ngọ khinh bỉ nhìn tên tuần vũ. Biết không tán tỉnh được, Tôn Thất Chữ nói:
-Con gái trẻ trung xinh đẹp thế mà sao không chịu ở nhà lấy chồng, sinh con cho sung sướng lại nghe theo lời xúi giục của bọn cộng sản, thích đi làm giặc để phải tù phải tội cho khổ thân?
Chị Ngọ không thèm trả lời tên tuần vũ. Trước cái nhìn khinh bỉ và căm hờn của chị Ngọ, viên tuần vũ đành lặng lẽ bỏ đi. Sự việc xẩy ra rất nhanh nhưng nó đã như một tia chớp loé lên trong đầu cậu. Trước đây cậu chưa biết thế nào là người cộng sản, nghĩ là họ cũng chỉ như các đoàn thảo khấu, mọi rợ và ngu đần. Không ngờ một người con gái cộng sản mà có khí phách kiên cường như thế. Viên tuần vũ đi rồi mà cậu còn nấn ná dừng lại để nhìn người tù cho rõ mặt. Bỗng nhiên chị Ngọ chìa ra cho cậu một mảnh giấy, nhờ chuyển tận tay cho viên tuần vũ. Cậu không ngần ngại, nhận lời. Tranh thủ lúc đi một mình cậu đã đọc vội tờ giấy với nét chữ tuy viết bằng bút chì nhưng rất rõ ràng sắc sảo. Đó là một bài thơ! Phải khẳng định ngay rằng đây là một bài thơ Đường luật làm rất chuẩn về niêm luật, và đặc biệt là về ý tứ. Có lẽ vì bài thơ quá hay mà cậu đã thuộc lòng ngay từ khi ấy và cho tới tận ngày nay. Bài thơ của chị Ngọ như sau:
Nước mất nhà tan nợ gánh chung
Có ta, ta phải gánh vai cùng.
Liễu bồ cùng đứng trong trời đất
Vàng đá xin thề với núi sông!
Tay yếu, chân mềm tuy phận gái
Gan bền, chí vững ấy đàn ông.
Chưa đền nợ nước, duyên gì nữa?
Gươm nọ là con, súng ấy chồng!
Về đến dinh tuần vũ, lựa lúc Tôn Thất Chữ vui vẻ cậu trao bài thơ cho ông ta. Viên tuần vũ chăm chú đọc, nét mặt đầy kinh ngạc và tỏ ra rất khâm phục. Từ hôm ấy cậu thấy ông ta có ít nhiều thay đổi trong cách cư xử với tù chính trị. Phải chăng ông ta tự thẹn với lương tâm? Điều đó cậu không chắc lắm. Còn cậu, từ hôm ấy trong đầu óc cậu bài thơ cứ được đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần. Cậu cũng thấy tự thẹn với bản thân mình. Người ta là phận gái mà như thế, đằng này mình sức dài vai rộng lại cũng có ít chữ nghĩa mà cam tâm làm tay sai cho bọn thực dân và lũ tay chân gian ác sao?
Sau vài đêm suy nghĩ, cậu quyết định xin “treo ấn từ quan”. Về nhà, cậu đã xé bỏ sắc phong “cửu phẩm” của chính phủ bù nhìn Nam triều và bắt đầu một cuộc đời “mai danh ẩn tích” đi làm cách mạng. Cho đến nay cậu vẫn chưa có dịp gặp lại người nữ tù cộng sản ấy, chỉ nghe người ta nói là chị Ngọ đã dũng cảm và kiên cường vượt qua tất cả, không chỉ thời gian ấy mà cả nhiều lúc sóng gió sau này”...
Bài thơ của người nữ tù Cộng sản Võ Thị Ngọ đã làm thay đổi cuộc đời cậu tôi, đã đánh dấu một khúc ngoặt vô cùng quan trọng và có tính quyết định trong cuộc đời cậu tôi! Kể từ ngày ấy, cậu tôi đã tìm cách bắt mối với cách mạng và bắt đầu cuộc đời hoạt động bí mật. Để có vỏ bọc, cậu đã học nghề làm thầy địa lý, chuyên đi xem mạch đất cho người ta làm nhà, an táng, cải táng... Bước chân của cậu đã đi khắp các vùng nông thôn, miền núi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Khi cách mạng tháng tám bùng nổ, cậu là một trong những người lãnh đạo cướp chính quyền ở huyện nhà.

2003

Không có nhận xét nào: