Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009

Còn hơn tình máu mủ

Còn hơn tình máu mủ

-Theo lời kể của Đại tá HUỲNH THÚC TUỆ-

Đầu năm 1947, tôi được điều động lên nhận nhiệm vụ trung đội trưởng tại một đơn vị đóng quân trên biên giới Việt Lào thuộc huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An. Là một học sinh trường Trung học Thuận Hoá (Huế), được thầy Tôn Quang Phiệt dẫn dắt, tôi đã theo cách mạng khá sớm nên sau ngày cách mạng thành công tôi được chọn vào học trường Lục quân Quảng Ngãi và trở thành một cán bộ quân đội cho tới tận bây giờ. Sinh ra trong một gia đình nhà Nho tuy không khá giả gì nhưng tôi được ăn học từ bé và hầu như chưa quen với lao động chân tay. Về một đơn vị chiến đấu, lại là một đơn vị hoạt động trên địa hình rừng núi hiểm trở , rất phức tạp và nguy hiểm, thật là một thử thách quá sức đối với tôi, một thư sinh vừa độ tuổi đôi mươi! Đơn vị vừa làm nhiệm vụ đánh Pháp, diệt phỉ bảo vệ biên giới, hỗ trợ cách mạng Lào; vừa làm dân vận, giúp đỡ đồng bào các dân tộc cả Việt và Lào tăng gia sản xuất, mở mang dân trí. Lên biên giới, vốn liếng của tôi chỉ có lòng nhiệt tình của tuổi trẻ pha một chút cảm hứng lãng mạn mà hầu hết thanh niên học sinh thời bấy giờ thường có. Đây là một vùng rừng núi hoang vu, dân cư thưa thớt, một nơi "ma thiêng nước độc", bệnh tật và chết chóc luôn ập đến từ mọi phương mọi hướng! Thật ra, nếu chỉ có nhiệt tình và tính lãng mạn thôi mà không có ý chí và lòng trung thành vô hạn với cách mạng thì khó bề trụ vững nơi đây. Đơn vị do tôi phụ trách đứng chân trên một vùng bán kính chừng 20 km, nằm giữa hai tỉnh Sầm Nưa và Xiêng Khoảng của Lào. Các chốt đóng quân nằm rải rác trên nhiều ngọn núi, ngã sông và muốn đi hết các điểm chốt thường phải mất cả tuần không nghỉ. Ba tháng liền tôi dành hết thời gian để đi nắm tình hình, làm quen với địa hình phức tạp và lạ lẫm, làm quen với đồng bào các dân tộc thiểu số và người Lào không biết tiếng Kinh, làm quen với ngôn ngữ, với phong tục tập quán địa phương và làm quen cả với số cán bộ chiến sĩ thuộc quyền tuy không đông nhưng rất ít gặp... Công việc gần như mới chỉ bắt đầu, tiếng súng cũng chỉ mới được nghe từ xa vọng lại, tôi chưa thật sự trở thành một người lính chiến mặt đối mặt với quân thù thì ... cơn sốt rét rừng đã ập đến, lôi tuột tôi về bệnh xá tuyến sau !
Tôi trở lại đơn vị vào giữa mùa mưa. Cơn sốt rét chỉ mới tạm yên, sức khoẻ mới tạm hồi phục ít nhiều nhưng không thể có thời gian chờ đợi. Lúc này bọn Pha Lăng (Pháp) và bọn phỉ từ Sầm Tớ, Mường Nà thuộc tỉnh Sầm Nưa thường thọc sang biên giới quấy phá liên miên. Đơn vị phải tổ chức tuần tra liên tục. Trong một cuộc tuần tra dài ngày thọc sâu vào vùng địch, chiến sĩ Hưng bị địch phục kích khi vượt qua con suối rộng đang mùa nước lũ, để trinh sát. Tuy chưa xác định chắc chắn nhưng có khả năng anh đã hy sinh vì mọi người đều thấy địch bắn như vãi đạn về phía anh. Tôi về đến đơn vị thì sự việc đã xẩy ra trước đó 7 ngày, nhưng vì quá nhiều công việc nên mọi người còn lúng túng chưa biết giải quyết ra sao. Vừa đặt ba lô, tôi yêu cầu được báo cáo ngay tình hình và rất chú ý tới trường hợp đồng chí Hưng mất tích.
Sau khi nghe báo cáo, suy nghĩ giây lát, tôi quyết định tổ chức ngay một cuộc hành quân cấp tốc tìm kiếm người đồng chí , mà có lẽ chính xác hơn là tìm thi hài người chiến sĩ hy sinh.
Một tiểu đội chiến đấu được thành lập do tôi trực tiếp chỉ huy lên đường ngay mờ sáng hôm sau. Hồi ấy hành trang người chiến sĩ hầu như chẵng có gì ngoài vũ khí và một cái bao nhỏ gọi là ruột tượng đựng một nắm cơm, vài lon gạo và gói muối dự phòng. Hành trang thì không nặng nhưng trong lòng mọi người thì nặng trĩu một nỗi lo âu và niềm xót thương vô hạn. Chiến sĩ Hưng quê ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) , cũng độ tuổi 20, mới rời xa ruộng đồng lên chiến đấu nơi đây trước tôi vài tháng. Đó là một chàng trai gầy gò, nước da mai mái vì sốt rét, rất lanh lợi và thông minh. Mới lên đây vài tháng mà Hưng đã biết được khá nhiều tiếng Lào, có thể giao dịch được với dân bản. Hôm lên chốt, gặp Hưng lần đầu, Hưng nướng sắn cho tôi ăn và đã kể sơ qua đôi nét về mình. Hình như cha mẹ anh đã dạm hỏi cho anh một cô gái làng bên và chờ dịp anh về phép là tổ chức. Hưng đã dạy tôi vài câu tiếng Lào cần thiết để có thể làm quen với dân chúng địa phương. Giờ này Hưng ở đâu? Trong thâm tâm tuy rất hy vọng Hưng còn sống nhưng linh tính báo cho tôi biết anh đã không còn. Bằng bất cứ giá nào cũng phải tìm được anh dù chỉ còn là nắm xương giữa núi rừng đầy côn trùng và muông thú!
Tôi chia đơn vị làm hai nhóm, nhóm đi đầu trinh sát, nhóm sau hỗ trợ. Những dự kiến về các tình huống phức tạp có thể xẩy ra đã được thảo luận và quy ước từ đêm hôm trước. Cả tình huống xấu nhất là Hưng đã mất, cần thu lượm và an táng thế nào cũng được bàn tỉ mỉ. Suốt một ngày hành quân khẩn trương và thận trọng, đơn vị mới chỉ đi được hơn nửa đoạn đường. Đêm chúng tôi nhặt lá lót ổ nằm nghỉ trong một góc rừng khuất nẻo. Sương đêm thấm lạnh, không chăn màn, muỗi bu như trấu, nhưng để giữ bí mật nên không được đốt lửa. Đâu phải vì lạnh hay vì muỗi đốt sưng khắp thân mình mà tôi không ngủ được? Tôi thao thức vì công việc ngày mai đang chờ ở tôi những phán đoán, những quyết định linh hoạt, chuẩn xác, không thể phạm sai lầm. Cái mà tôi đang thiếu là kinh nghiệm thực tế, không dễ gì có được ở một thư sinh vừa rời ghế nhà trường. Tôi nằm nghĩ miên man. Suốt đêm trằn trọc, hình ảnh chiến sĩ Hưng cứ ẩn hiện như thúc dục, như khẩn cầu, như động viên ... Con người nói chung và đặc biệt là những người đồng đội khi mới gặp nhau, thậm chí sống chung với nhau nhiều năm nhiều tháng, tình cảm ít biểu hiện rõ ràng, nhưng khi xa nhau, nhất là khi một người đã khuất nẻo vĩnh hằng thì tình cảm ấy như bỗng được nhân lên, lớn lao và sắc đậm diệu kỳ. Trong ký ức tôi, những hình nét, dáng dấp, điệu bộ và cả lời ăn tiếng nói đầy chất giọng vùng biển Quỳnh Lưu của Hưng như trở nên rõ nét và thân thiết lạ lùng! Mấy ngày trước tôi vừa nhận được tin cha mẹ và các em tôi mới thoát khỏi vòng vây địch, từ Quảng Bình tản cư ra Nghệ An, cũng đang sống ở vùng biển Quỳnh Lưu, biết đâu ngay chính quê Hưng. Hưng trở nên như một người đồng hương gần gũi. Giờ này Hưng ở đâu? Tuy không sùng đạo, càng không mê tín, trong đầu tôi bỗng xuất hiện những lời cầu nguyện thành tâm và dai dẵng! Đêm rừng Lào chỉ có tiếng mang tác, tiếng hổ gầm bất chợt giữa triền miên tiếng ầm ào của gió ngàn và tiếng réo sôi của thác nước dưới thung vọng lại. Đêm như thẳm xa, như bất tận...
Khi gà rừng cất tiếng te te báo trời sắp sáng, giữa màn sương dày đặc chưa nhìn rõ mặt nhau, đơn vị đã vội vàng lên đường. Ngày hôm qua hầu như đi không nghỉ, chỉ một vắt cơm với muối vừng, đói và mệt không làm ai nản chí. Tất cả chúng tôi đều hy vọng trong ngày hôm nay sẽ tới được mục tiêu. Nơi đây là vùng địch, có thể bị phục kích bất ngờ nên tôi ra lệnh cho tất cả phải im lặng tuyệt đối và đảm bảo giữ nghiêm các quy định. Đơn vị không đi theo các lối mòn mà vạch rừng, băng dốc, vượt các đoạn suối vắng. Suốt gần hai ngày không hề gặp một người dân, không nắm được tình hình địch. Mọi việc bất trắc đều có thể đột ngột xẩy ra. Đây là một cuộc hành quân đặc biệt vì không phải để tìm diệt địch mà chỉ để kiếm tìm đồng đội. Tìm được Hưng sẽ là một thắng lợi lớn vì ngoài vấn đề đơn thuần về tình nghĩa nó còn mang lại cho đơn vị một sức mạnh tinh thần không gì sánh được. Mỗi người chiến sĩ sẽ tự nhận biết được giá trị của sự hy sinh và đồng thời cũng thấy được niềm vinh dự và tự hào khi mình xả thân vì nước. Cuộc hành quân này chính là sự đền ơn đáp nghĩa. Khoảng xế chiều, đơn vị vừa lên một đỉnh dốc thì trinh sát báo về là đã thấy khúc suối cần tìm. Tôi bố trí lại đội hình, tổ chức cảnh giới cẩn thận rồi tiến dần về phía suối. Nước ầm ầm xô vào bờ đá. Gió đưa lại một mùi hôi khó chịu. Đi theo hướng gió, mùi hôi thối tăng dần không chịu được. Tôi cho các chiến sĩ lấy khăn thấm nước bịt mũi và cố tiến nhanh về hướng có mùi hôi thối ấy. Đến bên bờ suối, nhìn về phía bên kia mọi người đều thấy một khối hình sẫm màu nằm kề bên mép nước. Đúng là một tử thi, tử thi của người đồng đội thân thiết! Một cảm giác lẫn lộn trong đầu tôi. Tôi vừa thất vọng và đau đớn vì biết chắc là Hưng đã mất. Người chiến sĩ ấy đã vĩnh viễn nằm lại nơi đây, một nơi hoang vu và xa lạ. Biết bao giờ gia đình và những người thân của anh mới có dịp đưa anh về nơi chôn rau cắt rốn? Cha mẹ Hưng đã già, khi nhận được tin này các cụ sẽ ra sao? Mặc dầu đã chuẩn bị tinh thần từ trước, tôi vẫn bị một cú xốc bất ngờ. Không còn thời gian để nghĩ ngợi lan man. Một cảm giác khác lại cùng ập đến, tôi vừa thấy mừng vì đã tìm được người đồng đội xấu số để mai táng cho anh.
Sau khi tất cả đã vượt suối an toàn, bố trí xong lực lượng cảnh giới, tôi phân công công việc cho từng người. Gần chục ngày phơi nắng, dầm sương giữa mùa hè, thi hài người xấu số đã trương phình và thối rữa, nhặng và kiến bám đen ngòm nên rất khó nhận dạng. Tuy nhiên tấm áo Hưng mặc với miếng vá rất đặc biệt trên vai đã giúp đồng đội xác định rất chắc chắn người bạn chiến đấu của mình. Khi đến gần, mùi hôi thối trở nên đặc quánh lại. Một phản xạ tự nhiên khiến mọi người bị nôn thốc nôn tháo và nhìn chếch ra hướng khác. Biết đây là một việc vô cùng khó khăn, không thể không tự mình bắt tay vào việc, tôi đã bình thản đến xua ruồi nhặng rồi nâng xác người chiến sĩ. Nước mắt tôi trào ra, tôi cố nén để không oà khóc. Mùi hôi thối như cũng tan biến đi, không còn ai để ý. Không ai bảo ai, mọi người cùng xúm tay vào khiêng tử thi lên vùng đất khô ráo. Trước mắt mọi người giờ chỉ còn là người đồng đội thân thương, như khi anh còn sống. Nhiều người ôm chầm lấy xác anh khóc nức nở. Khi rời lán đóng quân, mặc dù đã nghỉ tới nhưng không kiếm đâu ra một mảnh vải để khâm liệm cho Hưng. Tôi cho mọi người nhặt lá khô, lau sậy và dây rừng để khâm liệm. Thấy phần đầu của Hưng đặt không ổn, tôi đã không do dự cởi tấm áo tôi đang mặc bọc lại cho chắc chắn. Cỗ quan tài đặc biệt đã làm xong, việc khâm liệm hoàn tất và người chiến sĩ được an táng trên một ngọn đồi giữa 2 cây dẽ cỗ thụ. Hai cây dẽ ấy có ngờ đâu đã trở thành hai cột trụ của một lăng mộ rộng mênh mông trên đất nước Lào để tưởng nhớ một người chiến sĩ Việt Nam!
Công việc hoàn tất khi bóng đêm vừa trùm lên rừng núi. Lá cỏ khô được đốt thay hương, thay nến trước nấm mồ người chiến sĩ. Những lời nói như được bật ra tự đáy lòng, không thành văn mà ứa trào xúc động. Mọi người đều thấy Hưng trở nên vô cùng thân thiết , thân thiết còn hơn tình máu mủ ruột rà! Những giọt nước mắt chảy dài trên má, trên ngực, chảy dài trên báng súng mà chúng tôi đang nắm chặt trong tay như thể hiện quyết tâm. Không có loạt đạn vĩnh biệt, chúng tôi giành những viên đạn quý hiếm ấy để nã vào đầu giặc, trả thù cho người đồng đội mến yêu!
Đêm mùa mưa tối mịt như bưng. Xa xa phía bên kia đỉnh núi là sào huyệt của bọn Pha Lăng mà chúng tôi đang chờ ngày xoá sổ. Cuộc hành quân đặc biệt này đã hoàn tất, lòng mọi người như nhẹ bỗng trên suốt đường về. Mãi sau này, tôi mới biết có một sự trùng hợp đến lạ lùng : Đúng cái ngày mà chúng tôi tìm thấy và làm lễ mai táng cho Liệt sĩ Hưng chính là ngày Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh chọn làm “Ngày Thương binh Liệt sĩ” ( 27 tháng7 năm 1947)

Hơn nửa thế kỷ qua rồi mà như mới hôm nao!...

Hè 1998

*Đại tá Huỳnh Thúc Tuệ (1925-2004) quê ở làng Minh Lệ,
xả Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình là
hậu duệ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và
Hoàng đế Mạc Đăng Dung.

1 nhận xét:

Hoang Hai nói...

Bác nên viết nhiều hơn về đề tài này, mai mốt không ai còn nhắc nữa, mai một đi uổng lắm.