Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2009

Cổ tích cho mai sau

Cổ tích cho mai sau

-Truyện ngắn-


Một buổi chiều mùa hè trên con đường ngoằn ngoèo ven suối, gần bản Đồi Sương, có một đôi vợ chồng già dìu nhau đi tha thẩn như đang kiếm tìm một kỷ vật, một dấu tích xa xưa. Ông già chống gậy, bước đi khập khiểng. Bà già luôn phải xốc nách dìu chồng. Thỉnh thoảng ông bước hụt, bà như thét lên nhưng rồi sau đó cả hai lại cười dòn như con trẻ. Chốc chốc hai ông bà dừng lại bên một khúc suối rộng, có bãi mòn như một bến sông, chỉ trỏ, nói cười râm ran, có gì vui lắm. Dòng suối hiền hoà chảy trên nền cát sỏi, xanh trong. Tiếng suối rì rào xen tiếng chim rừng thánh thót. Bên đồi, những trái sim chín mọng, những chùm hoa giẻ màu vàng lục, ngát hương. Cảnh vật thần thoại làm lòng người thêm ngất ngây.
Từ Miền Nam ra, hai ông bà về đây thăm quê ngoại và cũng là về tìm lại dấu tích một thuở ban đầu.
Họ là 2 nhân vật trong truyện cổ tích có niên đại từ những thập niên cuối thiên kỷ thứ 2 ...

Ngày xửa ngày xưa..., có một thời bọn giặc ngoại xâm kéo đến tàn phá trên một nửa phần đất nước. Máu chảy, xương rơi, nhà tan, cửa nát suốt một giải đất Miền Nam. "Có áp bức là có đấu tranh", ngọn lửa đồng khởi cách mạng đã cháy bùng lên, từ sông Bến Hải tới mũi Cà Mau. Những người con của Miền Nam tập kết ra Bắc cũng đang háo hức chờ mong ngày trở về quê hương góp phần dẹp tan giặc nước. Cũng từ dạo ấy, nhiều đoàn quân lặng lẽ tập trung về vùng rừng núi này, bắt đầu những ngày luyện tập gian khổ, đợi thời khắc vượt sông Bến Hải, vượt dãy Trường Sơn. Trong đoàn quân ấy, có một chàng hiệp sĩ, một thiếu uý trẻ măng, đẹp như chàng Từ Hải:
Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao...
Chàng trắng trẻo như một thư sinh thành thị, biết hát, biết ngâm thơ, biết đàn sáo rất hay. Hàng ngày chàng hiệp sĩ cùng đồng đội chất đầy gạch lên ba lô, gùi trên vai cùng vũ khí, rồi leo trèo, băng qua mọi con đường chênh vênh trên vách đá tai mèo dựng đứng, bên những bờ vực sâu hun hút. Mồ hôi ướt đầm, quần áo rách bươm, tay chân đầy vết chai, vết xước... Thời gian đầu, chàng chỉ gùi được 6 viên gạch, sau cứ tăng dần lên 8, 10, rồi vượt qua con số 20... Chàng ngóng đợi từng ngày từng giờ được lên đường trở về Miền Nam quê hương sau hơn 7 năm trời xa cách. Giờ đây cha mẹ và các em chàng đang còn trong vùng địch, ngày ngày mỏi mắt chờ trông chàng trở về cùng đoàn quân giải phóng. Đó cũng là ước nguyện thiêng liêng và duy nhất mà suốt 7 năm qua nung nấu trong lòng chàng hiệp sĩ. Trên con đường hành quân ngàn dặm nay mai, chàng sẽ phải đi bộ, vượt qua bao rừng núi bạt ngàn, bao đèo cao dốc đứng, bao vực thẳm suối sâu để về giải phóng quê hương. Vì thế chàng tập ngày tập đêm, không tiếc mồ hôi, không nề gian khổ. Sau chừng 2 tháng luyện tập, da thịt chàng trở nên đen bóng, rắn chắc như chàng Thạch Sanh chặt đầu chằn tinh thuở trước. Tiếng súng nơi tiền phương như thúc dục, như vẫy gọi, càng làm chàng náo nức, không yên. Ngày chàng trở về quê hương đang nhích lại rất gần...
Một buổi chiều hè, nắng như đổ lửa, không một gợn mây trôi, không một làn gió thoảng, đá tai mèo bỏng rát tay chân. Chàng hiệp sĩ trẻ tuổi cố bám vào vách đá, lách từng bước một để qua bên kia sườn núi. Chàng vừa bị cảm sốt mấy hôm nên sức đuối hơn mọi ngày, phải tụt lại sau đồng đội. Qua được phía bên kia thì trời đã quá xế chiều. Chắc đồng đội chàng đã về từ lâu. Chàng lững thững một mình đi băng qua vạt rừng về phía doanh trại.
Vượt qua một khúc quanh giữa các bụi sim, bụi mua cao ngang đầu người, bất ngờ phía chân đồi một khúc suối rộng hiện ra trước mắt chàng. Nắng cuối chiều vàng rực xiên qua đỉnh đồi tạo thành một nhát cắt chia dọc dòng suối ra hai phần, một phần tối, một phần sáng lấp lánh, thật lạ.
Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...
Chàng hiệp sĩ khe khẽ ngâm một câu thơ của nhà thơ Huy Cận mà chàng đã thuộc từ thời còn cắp sách. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt vời. Giá như đừng có chiến tranh! Chàng hiệp sĩ dừng lại, đứng ngẩn nhìn về phía dòng nước trong veo. Nóng bức, nhớp nhúa, chàng muốn được lao xuống dòng nước mát lạnh, trong xanh. Nhưng chiều đã muộn, chàng không thể làm theo điều mình muốn. Tiếng suối rì rào như mời gọi, như níu kéo bước chân chàng. Bỗng từ khoảng tranh tối tranh sáng kia tiếng cười đùa rộ lên, giòn tan, thanh trong như hoà theo tiếng suối. Khi ánh mắt đã quen với ánh sáng ở phần tối của dòng nước, chàng dần dần nhận ra một đoàn tiên nữ trong bộ xiêm y của nàng Êva đang vẫy vùng, đùa ngịch. Hai mươi ba tuổi đầu, chưa một lần tiếp xúc với người khác giới, chàng hiệp sĩ trẻ tuổi như chợt khám phá ra một bí mật của... thiên hà! Ngượng ngùng, xấu hổ với bản thân, chàng định quay đi, trốn chạy. Nhưng đôi chân như không còn chịu nghe lời! Đúng như câu thơ của nữ sĩ Xuân Hương:
“Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dỡ, ở không xong !”...
Thời gian như đứng lặng. Không gian như vô hình. Chàng mải ngắm bức tranh thiên nhiên mờ mờ ảo ảo phía xa xa, không còn nhận biết tới xung quanh. Chỉ vài phút thôi, vừa như thật ngắn lại vừa như thật dài bởi những hồi trống ngực thì thùng, tức nghẹn. Ráng chiều làm nên bức màn nhung che cho đoàn tiên nữ, chàng chỉ cảm nhận được dung nhan qua tiếng cười từng tràng, từng tràng vọng tới. Thế cũng đủ cho một sự tìm tòi khám phá. Chàng bỗng thấy xấu hổ, tự ngượng với bản thân mình, định quay đi. Nhưng một vật gì nhọn sắc đã chạm mạnh vào lưng, gai lạnh! Một tiếng quát đanh gọn bên tai! Chàng bị tước vũ khí và bị trói giật cánh khuỷu, điệu đi! Sau một lát bàng hoàng, chàng mới nhận ra người “bắt sống” mình là một ... nàng tiên nữ, tóc tai, váy áo còn sũng ướt! Chàng im lặng ngước nhìn “làn thu thuỷ nét xuân sơn”, vừa ngượng, vừa lo, ngoan ngoản làm theo mệnh lệnh. Chàng không lo vì bị bắt mà lo khi về sẽ bị đơn vị kỷ luật khiển trách. Và chàng lo nhất là sẽ trở thành câu chuyện đàm tiếu cho mọi người: một hiệp sĩ bị sơn tiên bắt sống!
Khoảng 8 giờ tối thì chàng hiệp sĩ được giải cứu sau khi đơn vị cho người đến xác minh. Thì ra chàng bị nghi là ... biệt kích! Tiên nữ bắt trói chàng là một cô gái Mường vào độ đôi mươi, có cái tên rất dễ nhớ. Có lẽ vì dễ nhớ nên cái tên ấy đã như một định mệnh theo suốt cuộc đời chàng...
Chàng hiệp sĩ trẻ tuổi vừa ngượng ngùng, lại vừa ngập ngừng lưu luyến khi chia tay nàng tiên nữ đã bắt sống và điệu mình về bản. Nàng tiên có cái tên là Hát, không rõ tiếng Mường có nghĩa gì nhưng với tiếng phổ thông thì đủ thấy ... yêu đời ! Về sau chàng mới biết nàng tiên có cái tên rất hợp với nàng. Nàng rất hay hát và hát cũng rất hay. Tiễn chân chàng “tù binh” ra tận mé rừng, nàng tiên nữ vừa như ái ngại, vừa như bâng khuâng. Chàng “tù binh” chìa bàn tay đầy vết chai vết xước, nàng tiên khẽ đụng vào rồi vội vàng co rút lại như bị ... điện giật! Dưới ánh trăng thượng tuần, chàng chỉ thoáng thấy nụ cười bẽn lẽn, đôi mắt long lanh và hàm răng trắng muốt. Nàng như một bông hoa giẻ của rừng núi hoang sơ mà thỉnh thoảng chàng bắt gặp, mướt vàng, thơm ngát, trinh nguyên...
Một tuần sau, trên đường đi tập về, bất ngờ chàng hiệp sĩ lại gặp nàng tiên ngay trên đồi sim. Sim đang mùa chín mọng, mời chào. Từ xa chàng đã nhận ra nàng, phân vân chẳng biết nên chào hay nên tránh. Nhưng bàn chân chàng (cũng tại bởi bàn chân!) cứ dẫn chàng về phía nàng tiên! Một con chim rừng bay vụt lên làm nàng tiên đang hái sim giật mình ngoảnh lại. Nàng lặng người, nhìn trân trân vào “tên biệt kích”, không biết giấu làn môi tím sẫm vào đâu. Ngượng ngùng làm khuôn mặt nàng ửng đỏ như trái sim mới chín. Một sắc đẹp tự nhiên làm tim chàng ngẹt thở. Tình thế đảo ngược, nàng như trở thành “tù binh” của chàng! Nhưng chàng đâu dám bắt “tù binh”? Từ cái đêm trăng thượng tuần ấy họ đã mặc nhiên “ký thoả ước hoà bình” và cùng thầm mong muốn “thiết lập quan hệ ngoại giao” khi “điều kiện chín muồi”. Và điều kiện ấy đã bất ngờ xuất hiện! Chừng mười phút giãi bày tâm sự- vì chàng không thể nán lại lâu hơn- họ đã hiểu nhau ít nhiều và hẹn hò gặp lại. Nàng sẽ đón đợi chàng trên ngọn đồi này sau một bụi sim trĩu quả, khi mỗi buổi chiều về. Thế là từ buổi ấy họ đã có những cuộc hẹn hò đầy thi vị. Vai kề vai, chàng muốn thổi sáo cho nàng nghe, nàng muốn cất cao tiếng hát như hoạ mi để xua tan nỗi vất vả nhọc nhằn mà chàng đang gánh vác... Nhưng họ chỉ ngồi im lặng, im lặng như rừng chiều, im lặng như bầu trời hoàng hôn tím nhạt. Họ cần giấu kín cuộc tình vì sợ phạm vào quân kỷ. Chàng vạch định tương lai sau ngày trở về toàn thắng. Nàng tặng chàng một chiếc răng nanh lợn rừng như một tín vật theo suốt bên chàng để chàng làm bùa hộ mệnh. Gói chiếc răng vào trong mảnh giấy, chàng cất vào túi áo ngực, ngay trước trái tim. Họ thầm ước nguyện cùng nhau khúc suối bên bản Đồi Sương sẽ là bến đợi của hai người ...
Ngày chàng lên đường vượt Trường Sơn, nàng không được phép tiễn đưa. Theo lời giao hẹn, nàng ra bờ suối vờ ngồi đan rổ rá, đợi chờ. Tay đan, mắt không rời dòng suối. Gần trưa, nàng thấy một gói lá chuối khô trôi theo dòng nước. Nàng vội vàng lội ra giữa dòng nhặt gói lá, trống ngực thùng thùng. Nàng mở gói lá thấy có một cái lọ nhỏ, bên trong là lá thư cuốn gọn và một chiếc nhẫn bằng đuya-ra lấy từ xác máy bay giặc, khắc hai chữ lồng DH. Cũng cần nói rõ hơn, chàng hiệp sĩ tên Dương. Nàng tiên ngắm nghía hồi lâu rồi lồng chiếc nhẫn vào ngón tay đeo nhẫn của mình. Thật kỳ lạ, từ giờ phút ấy chiếc nhẫn như gắn chặt vào ngón tay, bám chắc vào da, vào thịt, vào xương, không cách nào tháo được! Chiếc nhẫn sẽ theo suốt đời nàng.
Chàng hiệp sĩ lên đường vượt Trường Sơn ngàn dặm. Chàng đi không biết bao ngày, bao tháng, bao năm, băng qua bao đỉnh núi, dòng sông, bao thác ghềnh, đèo cao, vực thẳm; đạp lên bao bốt đồn, căn cứ, sân bay, bến cảng, chi khu... Trái tim chàng rực cháy bởi tình yêu đất nước, quê hương, bởi một sức mạnh vô hình từ xa tiếp sức. Đêm đêm chàng vẫn dõi theo một ngôi sao phương Bắc, một ngôi sao như thể trái tim luôn luôn hướng vọng vào Nam, một ngôi sao dành trọn cho chàng.
Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây... (Nguyễn Đình Thi)
Chàng đã về giải phóng quê hương, làm tròn điều ước nguyện thiêng liêng bấy lâu ấp ủ. Trên ngực chàng những tấm huân chương phủ dầy lên mãi. Ngày tên giặc cuối cùng bị quét sạch, lần thứ hai chàng không may bị trọng thương, ngay trên đất Tây Đô! Ba năm liền nằm trong Quân y viện, chàng tưởng không bao giờ còn gặp lại nàng sơn tiên thuở trước! Chàng không báo tin cho nàng, phần vì không thể tự viết thư, phần vì ngại làm nàng đau khổ và vì mình mà sẽ vất vả suốt đời. Chàng tự hiểu mình khó bề đem lại hạnh phúc cho nàng! Tình yêu cứ như một lò than âm ỉ cháy, phải chế ngự, không thể để bùng lên thành ngọn lửa!
Còn nàng Hát, từ sau ngày chàng hiệp sĩ của nàng lên đường vượt Trường Sơn, nàng ngày đêm trông ngóng tin chàng. Những cánh thư từ tiền phương xa lắc như sưởi ấm, như tiếp thêm sức mạnh cho nàng để vừa sản xuất, vừa tham gia chiến đấu. Nàng đã cùng trung đội nữ dân quân của mình bắt được giặc lái khi máy bay chúng bị bắn rơi ngay trên bầu trời bản Đồi Sương. Ngày Miền Nam toàn thắng, trong niềm vui chung, nàng còn một niềm vui làm thổn thức con tim. Nàng chờ mong ngày chàng trở lại ngọn đồi xưa. Chiếc nhẫn luôn giúp nàng giử vững niềm tin.
Chàng hiệp sĩ có cảm nhận được chăng, suốt 3 năm liền từ khi im tiếng súng, nàng sơn tiên cứ mỏi mắt chờ trông? Chiều chiều trên đỉnh đồi sim, nàng đứng ngóng chàng như hòn đá vọng phu. Nàng thẫn thờ, nàng hy vọng và chưa một lần nàng thất vọng. Chưa một lần nàng có ý nghi ngờ lời hẹn ước của chàng! Nàng tin chắc ngày chàng trở lại.
Một ngày kia bất ngờ nàng biết chuyện về chàng. Một người lính về thăm quê ở xã kế bên có biết chút ít về chàng đã kể với bà con. Và tiếng đồn như gió qua thung, lan đến tai nàng. Người lính ấy biết chàng bị thương ở Tây Nguyên, nhưng đơn vị đã chuyển đi, giờ đang ở đâu thì anh không rõ. Nỗi lo âu, thương xót bóp nghẹt con tim. Sau một đêm dài thức trọn, nàng quyết chí đi tìm chàng. Chưa từng ra khỏi bản tới chục dặm đường, vậy mà nàng quyết một mình vào Nam, lạ lẫm và xa lắc xa lơ. Gia đình, bạn bè can ngăn cũng không làm nàng nản chí. Nàng xin cha mẹ cho bán đi vài yến thóc, một con bò làm vốn dắt lưng. Ngày nàng lên đường trời mới chớm đông, những ngọn heo may đầu mùa theo tiển bước chân nàng. Bà con dân bản cũng ra tận ngoài đường quốc lộ tiễn đưa.
Hàng tháng trời đi tàu, đi xe, đi thuyền, đi bộ... nàng lần mò tới các Quân khu, Quân đoàn, tới nhiều Quân y viện và trại thương binh. Nàng đến Vinh, nàng qua Quảng Bình, nàng vô xứ Huế. Đất nước mới được giải phóng chưa lâu, những con đường gồ ghề nham nhở, bụi cuốn mù trời. Hai bên đường nhà cửa chỉ là nhửng túp lều dựng tạm. Hố bom chi chít bên đường. Từ Quảng Trị, đâu đâu cũng thấy biển ghi "Bãi mìn" đầy đe doạ. Nàng rùng mình khi nghĩ tới bước chân chàng đã trải qua suốt bấy năm trời. Các trạm điều dưỡng, các Viện Quân y khá nhiều mà không đâu tìm thấy tên chàng. Đến Đà Nẵng rồi lên Tây Nguyên, nàng lần tìm tới các bộ chỉ huy Quân khu, các tỉnh đội để nhờ tra tìm danh sách thương binh, hy vọng có tên chàng trong đó. Khi ở Plây cu, nàng tìm thấy tên chàng trong danh sách các thương binh từng điều trị ở một trạm Quân y dã chiến, nhưng xuất viện đi đâu thì không ai biết. Đằng đẳng nửa tháng trời mà không tìm thêm được dấu vết gì. Nàng sang Bảo Lộc, nàng xuống Nha Trang, nàng lại vô Biên Hoà ... Vẫn chỉ là bóng chim tăm cá! Hơn nửa tháng tìm kiếm ở Sài Gòn cũng cứ biệt tin. Số tiền mang theo ít ỏi đã tiêu hết veo trên các chuyến xe đò. Nàng ăn uống hết sức tằn tiện nên sức khoẻ ngày càng giảm sút. Đường xấu, xe cộ lắc lư, không một chặng nào là không nôn thốc nôn tháo. Vậy mà nàng vẫn đủ sức để đi tiếp chặng đường bất định. Nhửng nơi nàng đến ai cũng khuyên nàng nên trở về quê chờ đợi, có được tin chàng mọi người sẳn sàng tìm giúp. Nhưng nàng vẫn kiên quyết tiếp bước cuộc trường kỳ mà mình đã chọn. Trong nhửng ngày ở lại Sài Gòn, nàng phải đi gánh nước thuê, đi quét dọn, rữa bát cho nhà hàng để kiếm tiền sinh sống qua ngày. Một lần có mấy anh bộ đội đến uống nước trong quán. Nàng lân la hỏi chuyện như mọi ngày. Rất may, có một anh đã từng quen biết chàng. Anh bộ đội khẳng định với nàng là chàng Dương đã theo một cánh quân tiến xuống miền Tây trong nhửng ngày tháng tư đại thắng. Thế là nàng lại tức tốc ra bến xe đò...
Xuống miền Tây Nam Bộ, nàng đến ngay Bộ Tư lệnh Quân khu nhờ tra tìm giúp. Rất may là nàng đã thấy tên chàng. Thật khó mà nói hết nỗi vui mừng của nàng khi ấy. Nàng như tức thở trước dòng tên của chàng trong bảng danh sách những thương binh nặng đang nằm điều dưỡng. Niềm vui át cả nỗi lo nên hầu như nàng không hề có ý thức gì về dòng chử "bị thương nặng"! Nàng vội vả đi ngay như sợ dòng tên kia tuột mất. Trời đất thần linh đã hiểu thấu lòng nàng, đã không phụ niềm tin và công sức của nàng. Nàng đã tìm thấy chàng trong một Viện Điều dưỡng khi chàng đang ngồi trên xe lăn ra vườn hóng mát. Trên tay chàng chiếc răng nanh lợn rừng trắng bóng phản xạ tia nắng ban mai đập vào mắt nàng như một tín hiệu chỉ đường kỳ diệu. Nàng đã nhận ra chàng ngay trong chốc lát. Bao vất vả nhọc nhằn, bao nhớ nhung, lo âu, chờ đợi như sợi dây đàn thẳng căng bỗng nhiên nới lỏng. Những giọt nước mắt của hai người hoà quyện vào nhau, đắng chát trên môi, ngọt ngào đầu lưỡi. Nàng mặc nhiên ở lại cùng chàng như nàng Giáng Hương ở lại cùng chàng Từ Thức...
Năm tháng trôi nhanh, nàng Hát và chàng Dương bây giờ đã là lão ông lão bà, chăm sóc vườn cây ăn trái bên dòng sông Cửu Long. Chàng hiệp sĩ thuở xưa muốn ở lại lâu dài với mảnh đất mà mình đã gửi một phần xương máu. Nàng sơn tiên cũng từ giã núi rừng để mãi mãi bên chàng hiệp sĩ. Và cũng như nàng Giáng Hương cùng chàng Từ Thức ngày xưa, họ đã gắn bó bên nhau và cùng nhau sinh con đẻ cái. Bây giờ họ đã có một trai, một gái đang đến tuổi trưởng thành. Người con trai là bản sao của chàng hiệp sĩ thuở xa xưa. Người con gái là hình mẫu của nàng tiên nữ hơn ba chục năm về trước. Chàng trai đã là kỹ sư, cô gái cũng sắp thành cô giáo. Hai dòng máu Kinh - Mường hoà quyện đã tạo nên những nét đẹp lạ kỳ.
Chiếc răng nanh lợn rừng trên túi ngực ông hiệp sĩ và chiếc nhẫn đuya-ra gắn chặt trên ngón tay bà tiên nữ đã trở thành những biểu tượng vĩnh hằng cũa một tình yêu thời cổ tích.
Mới hay, đuya-ra còn bền hơn cả vàng, răng nanh lợn rừng còn quý hơn cả ngọc!

1998

Không có nhận xét nào: