Thứ Năm, 12 tháng 3, 2009

Đứa con bất chợt

Đứa con bất chợt
-Truyện ngắn-


Mùa đông năm 2001. Chúng tôi cùng nhau về thăm lại bản Nà Ma, nơi gần bốn thập kỷ trước chúng tôi đã từng nương náu suốt hai năm. Bản Nà Ma xa lắc, nằm ẩn sâu sau nhửng ngọn núi cao, những cánh rừng già. Đó là một bản nhỏ của đồng bào Tày, hơn chục nóc nhà, đơn sơ và heo hút. Có lẽ nếu không có những ngày trường chúng tôi sơ tán về đây thì cái bản nhỏ nhoi này chắc vẫn chìm trong sự quên lãng của cuộc sống thời hiện đại. Thật vậy, hầu hết dân bản, trừ một vài người đàn ông thoát ly đi bộ đội, hầu như chưa ai ra khỏi cánh rừng bạt ngàn bao quanh như một đại dương. Khi chúng tôi mới về đây, trong bản chỉ có một đôi người nói được vài tiếng phổ thông. Những mái nhà sàn đơn sơ, cũ kỹ đặc quánh mùi phân lợn phân trâu nằm rải rác bên lối đi ngập ngụa. Lần đầu rời thành phố về đây, mỗi bước chân trên con đường vào bản chúng tôi không khỏi rùng mình.
Thế mà đã ba mươi bảy năm có lẻ. Thời gian như cánh nhạn bay !
Xe chúng tôi vừa tới đầu bản thì đã có nhiều em nhỏ chạy ùa ra đón. Các em nhìn chúng tôi đầy vẻ tò mò, lạ lẫm. Chẳng mấy chốc bà con dân bản cũng ùa ra vây kín chúng tôi. Nhiều người ngắm nghía chúng tôi rất kỹ càng rồi à lên một tiếng vui mừng khi nhận ra những người mà mình từng quen biết. Có những ké, những mế chúng tôi nhận ra ngay từ khi gặp mặt. Gần bốn chục năm rồi mà trí nhớ vẫn còn bền chặt trong tâm trí mọi người. Điều ấy đủ nói lên tình cảm sâu đậm giữa chúng tôi với bà con dân bản. Tất cả ngồi quây quần trong ngôi nhà ông trưởng bản, một ngôi nhà ngói năm gian khá rộng. Trong bản giờ hầu như toàn nhà ngói, chỉ duy nhất còn lại một ngôi nhà sàn, chỉ để làm kho thóc. Không còn cảnh người ở trên, trâu bò lợn gà ở dưới. Cũng điện, cũng đài, ti vi, xe máy, chẳng khác miền xuôi là mấy. Khác với thời chúng tôi mới lên đây, bây giờ bà con dân bản đều biết nói tiếng Kinh gần như người miền xuôi, tuy giọng hơi lơ lớ. Mọi người tranh nhau nói, tranh nhau hỏi han đủ thứ chuyện tích tụ lại suốt bấy năm qua. Có đầy ắp nụ cười và cũng đầy nước mắt cảm động mừng vui giữa những người thân thương gặp lại. Máy ảnh, máy quay phim nháy đèn lia lịa. Thôi thì đủ thứ chuyện, chuyện xưa chuyện nay, chuyện miền xuôi miền ngược, chuyện trong và ngoài nước... cứ tuôn chảy không ngừng như những chén rượu cứ vơi rồi lại đầy ăm ắp.
Cảnh ồn ào náo nhiệt bỗng ngừng lại đột ngột khi một người đàn ông còn trẻ chạy ào vào, nhớn nhác kêu lên:
- Cho cháu hỏi bác nào là bác Đắc, bác Nguyễn văn Đắc? Có bố Đắc, bố Đắc người Ninh Bình ở đây không ạ? Bố Đắc ơi, con là con trai bố đây!
Chúng tôi nhìn nhau ngơ ngác. Ông bạn Đắc cũng ngơ ngác không kém chúng tôi. Anh bạn trẻ này rõ ràng là chúng tôi không quen, không thể quen vì tuổi anh ta chắc chưa đủ so với thời gian chúng tôi rời xa bản. Vậy anh ta là ai? Tại sao tìm ông Đắc? Lại còn gọi ông Đắc là bố! Bà con dân bản cũng ngạc nhiên không kém chúng tôi. Điều lạ lùng hơn nữa là anh ta cũng có tên là Đắc, Nông văn Đắc. Khi biết được đích xác ông Đắc là ai, anh ta liền sà ngay tới, ôm chầm lấy ông như một người thân lâu ngày gặp lại. Và từ lúc ấy anh ta không chịu rời xa ông nửa bước. Hai "bố con" tâm sự những gì thì chúng tôi không biết vì ai cũng cần gặp và chuyện trò với từng bà con dân bản. Suốt buổi chiều hôm ấy chúng tôi đi thăm lại gốc đa, nơi chúng tôi từng dựng nên lớp học; thăm bến sông nơi đặt nhà bếp, nhà ăn và cả khu nền nhà ở tập thể chúng tôi dựng thuở xa xưa nay đã trở thành vườn cây ăn trái... Sau đó chúng tôi chia nhau về thăm từng nhà, nơi mà thuở ban đầu xa xưa chúng tôi từng ở trọ. Vì chỉ tranh thủ đi vào ngày chủ nhật, không có nhiều thời gian nên gần chập tối chúng tôi đã phải chia tay. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ thoả mản được phần nào niềm ao ước hằng ấp ủ bấy lâu của mỗi một chúng tôi và của cả bà con dân bản.
Xe về xuôi trong đêm tối cuối năm lạnh giá. Nhưng khác với mọi chuyến đi mà tôi từng biết, chuyến xe này luôn đầy ắp tiếng nói tiếng cười trên suốt chặng đường xa. Không một ai buồn ngủ, kể cả các bà thường quen ngủ gà ngủ gật khi bước lên xe. Trên đoạn đường hơn hai trăm cây số ấy, câu chuyện hầu như chỉ xoay quanh một đề tài duy nhất: ông Đắc có con trai!
Xe vừa chuyển bánh, sau những cái vẫy tay lưu luyến là mọi người đã gần như cùng nhất loạt hỏi dồn hỏi dập ông Đắc về đứa con bất chợt như vừa từ trên trời rơi xuống ấy. Ông Đắc đỏ mặt, ấp a ấp úng không biết trả lời thế nào cho phải. Xưa nay ông vốn hiền lành, có phần nhút nhát và rất ít nói. Là một đại tá về hưu nhưng ông rất ngại chuyện trò tiếp xúc, nhất lại là chuyện tình cảm riêng tư và rất tế nhị thế này. Thôi thì ba mươi sáu chước, chước im lặng là thượng sách. Dù ông có giải thích thế nào thì liệu có ai tin ? Ông Ân, một quan chức cao cấp, trẻ hơn ba bốn tuổi cứ động viên ông Đắc:
- Anh Đắc cứ nói thật đi mà. Bây giờ thì còn sợ ai kiểm điểm nữa! Anh cứ nhận đi, bọn em ủng hộ anh. Mà lâu nay anh vẫn mong có được đứa con trai, bây giờ có thì còn gì hạnh phúc hơn nữa chứ? Chị và các cháu ở nhà chắc cũng sẻ vui mừng không kém đâu. Em xin sẵn sàng đứng ra tổ chức một bữa liên hoan, mời tất cả bạn bè, họ hàng nhà anh và bà con dân bản Nà Ma cùng về dự để anh và cháu chính thức nhận cha con. Được chưa nào?
Mọi người cùng nhao nhao: Được đấy, được đấy. Định ngày luôn đi, chúng tôi sẵn sàng góp phần để làm một bửa tiệc liên hoan thật to vào.
Câu chuyện cứ thế mà tiếp diễn như không bao giờ có thể ngừng. Mặc cho mọi người nói ra nói vào, ông Đắc chỉ cười trừ, cứ ngồi lặng im, thẹn thùng bẽn lẽn như con gái mới về nhà chồng! Những khi chuyện tạm lắng xuống, từng nhóm lại rầm rì bàn ra tán vào, mỗi người một ý khác nhau. Người thì cho rằng ông Đắc bị hiểu lầm, làm gì có chuyện ông ấy lằng nhằng với chị Vày, người mà ông vẫn coi như chị em; người lại bác bỏ, dứt khoát cho rằng chỉ tại "lửa gần rơm", đích thị đó là con ông ấy. Trông mặt mủi cũng hao hao giống bố! Cái chính là cậu con trai nói chắc như đinh đóng cột :
- Khi còn sống, pá mế cháu cứ dặn đi dặn lại là phải cố tìm bằng được bố Đắc và nói với bố Đắc là pá mế con vẫn luôn biết ơn bố và nhớ tới bố. Mế còn nhắc tới cả chú Hưng và chú Thịnh nữa. Mế con nói là mế con không bao giờ quên được những kỷ niệm sâu sắc mà bố Đắc và các chú đã để lại cho mế con... Nếu bố Đắc về thì hãy chỉ cho bố thấy gốc mít, góc sân, đống rạ ... chắc bố sẽ hiểu ra tất cả.
Như thế thì chứng tỏ hai người dứt khoát phải có tình ý với nhau rất sâu nặng và kết quả là thằng con này chứ còn gì nữa. Mà thật khớp, cậu con trai này lại sinh vào cuối năm 1967, nghĩa là ngay sau khi chúng ta rời bản Nà Ma độ nửa năm. Thì ra ông Đắc tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi! Hiền lành, nhút nhát thế mà ai ngờ...
Suốt mấy tiếng đồng hồ, câu chuyện cứ luẩn quẩn loanh quanh mà chẳng thể đi đến một kết luận nào. Ông Đắc biết là có giải thích thế nào thì cũng chẳng thoả mản được sự hiếu kỳ và nghi ngờ của mọi người nên chọn cách im lặng là thượng sách. Bạn bè có muốn hiểu thế nào mà chẳng được. Xe đã về đến Hà Nội lúc quá nửa đêm. Cho đến lúc chia tay câu chuyện vẫn còn rôm rã và mọi người đành bỏ lửng ...
*
Với mọi người là vậy, riêng với ông Đắc suốt đêm ấy không thể nào chợp mắt. Ông cứ nghĩ mãi về bản Nà Ma, về những con người, về nhửng gì trong quá khứ xa xưa. Ông cứ tiếc hoài về cuộc viếng thăm chậm trể này. Trước mọi người tuy cố giữ im lặng nhưng không phải là ông không có những xao động mãnh liệt trong lòng. Chuyện gần bốn chục năm về trước mà hầu như đã không còn trong trí nhớ của ông lại dần dần hiện về rõ nét khi anh con trai bản Nà Ma dẫn ông đi thăm lại ngôi nhà thuở xa xưa ông từng ở trọ trong nhửng ngày đầu mới đến ...
Ngày ấy, anh chàng Đắc là một trung sĩ Pháo binh được Quân đội cử đi học đại học. Mới qua năm thứ hai thì chiến tranh phá hoại leo thang ra Miền Bắc và trường anh phải sơ tán lên vùng rừng núi xa xôi hẻo lánh này. So với bạn bè cùng lớp, anh thuộc loại đàn anh lớn tuổi. Anh cũng đã có vợ và có một cô con gái ở quê. Các bạn trẻ đi sơ tán nhớ nhà một thì anh nhớ nhà gấp đôi gấp ba. Nhưng là một người lính, anh luôn giấu kín trong lòng mọi tâm tư tình cảm để không ảnh hưởng đến học tập vì đó thực sự là “nhiệm vụ chiến đấu” mà Quân đội giao cho anh.
Nhóm anh có ba người được phân về ở nhờ nhà chị Vày, một ngôi nhà khuất xa cuối bản. Chị Vày chỉ trạc ngoài ba mươi tuổi, đã có hai con nhỏ. Chồng chị cũng là bộ đội đang đóng quân tận trong Khu 4. Nhà chị Vày neo người, một mình chị vất vả lo toan tất cả để nuôi con. Chị hầu như không rãnh rỗi chút nào. Nào làm ruộng, phát rẫy, nào nuôi trâu, nuôi lợn gà, xay thóc giã gạo cho đến chợ búa, gánh nước, lấy củi... tất tần tật đều một tay chị làm. Người đàn bà trẻ ấy ngày càng ốm yếu, gầy còm trông thật tội nghiệp. Tuy thế chị vẫn luôn vui vẻ, chưa thấy cáu bẳn với ai bao giờ. Ngay từ những ngày đầu chị Vày đã coi nhóm các anh như những người em. Chị luôn để ý xem việc ăn ngủ của mấy cậu "công tử” từ thành phố về có chịu đựng được không. Cậu Hưng vốn con nhà khá giả, luôn được mẹ nuông chiều nên hầu như việc gì cũng không biết làm. Buổi tối đầu tiên cậu ta cứ loay hoay mãi mà không sao mắc được chiếc màn để ngủ. Thật tội, bây giờ Hưng không còn nữa, cậu ấy đã hy sinh trên chiến trường Tây Nguyên, mãi gần đây gia đình mới tìm thây mộ. Còn cậu Thịnh thì thư sinh yếu ớt, xách ống nước từ sông lên bờ phải nghỉ tới hai lần. Vậy mà sau này đi chiến đấu cậu ta đã trở thành một một sĩ quan tên lửa lập công rất xuất sắc, suýt được tuyên dương anh hùng. Thịnh đang công tác ở trong Nam không ra tham gia chuyến “hành hương” này được. Đắc hơn hai “cậu bé” này tới 4 tuổi, được coi là anh cả nên thường phải quán xuyến mọi việc và giúp chúng nó. Được cái là cả hai đứa đều rất ngoan, luôn luôn nghe lời chỉ bảo và phân công công việc của anh Đắc. Mọi việc hàng ngày rồi cũng dần dần đi vào nề nếp. Đến địa điểm sơ tán được 2 ngày là lớp các anh bắt tay vào học ngay. Chủ trương của nhà trường là dù sơ tán vẫn phải đảm bảo tiến trình học tập. Chưa có phòng học, sáng sáng các anh ngồi dưới gốc đa cổ thụ, bên cạnh ngôi miếu hoang để nghe giảng. Vở ghi bài được kê lên đầu gối để viết. Buổi tối thắp đèn dầu hoặc ngồi bên bếp lửa học bài đến khuya. Buổi chiều được dành riêng cho việc xây dựng hội trường và lán trại. Cả lớp không trừ một ai cùng vào rừng chặt tre, nứa, cắt gianh để về dựng phòng học, dựng nhà bếp và dựng nhà để ở. Nhờ một số sinh viên như Đắc là cán bộ và bộ đội đi học, có ít nhiều kinh nghiệm nên lớp đã tự lực làm được tất cả. Không ngờ lớp lại có khá nhiều “thợ lành nghề”, nhà dựng rất chuẩn và đẹp. Gần tròn hai tháng sau thì các anh đã có lớp học và có nhà để ra “ở riêng”, không còn phải ở nhờ nhà dân. Hai tháng ở nhờ nhà dân đã làm cho mối quan hệ giữa bà con địa phương và các anh trở nên thân thiết như đồng hương, như họ hàng thân thích. Ngày nghỉ các anh thường vào thăm hỏi, giúp đở bà con. Ngày giỗ chạp, ngày lễ tết bà con lại mời bằng được các anh vào chung vui. Nhóm của Đắc còn giúp được chị Vày lợp lại mái nhà đã dột nát từ lâu mà chồng chị ba năm rồi vẫn chưa về phép.
Dịp tết năm 1967 anh Chấn chồng chị Vày được về nghỉ 2 ngày trước lúc đi B. Nhóm của Đắc được anh chị mời vào cùng ăn tết, rất vui. Anh Chấn cứ xuýt xoa cám ơn mấy anh em đã giúp anh dạy các cháu học nên bây giờ hai cháu đều đã đọc thông viết thạo, tự tay viết được thư cho bố. Vì hồi ấy trường học rất xa nên hai cháu tuy đã đến tuổi đi học nhưng không được đến trường, các anh đã phân nhau hàng ngày vào dạy cho các cháu. Không những thế, thỉnh thoảng các anh còn bày cho các cháu viết thư và giúp các cháu gửi thư cho bố Chấn.
Chị Vày ốm yếu luôn do chứng thiếu máu hay đau tim gì đó. Khi còn ở nhà chị, Đắc đã nhận thấy những biểu hiện không bình thường ở chị. Thỉnh thoảng chị Vày bị tối xầm mặt mũi và suýt ngất xỉu, nhất là những lúc công việc bộn blu, phải làm việc nặng. Những lúc như vậy Đắc không biết phải làm gì, chỉ khuyên chị nghỉ ngơi chốc lát, đừng cố sức. Công việc dỡ dang các anh làm giúp. Khi ra “ở riêng” các anh thường rất lo cho chị vì các cháu còn bé, sợ có chuyện gì thì không có ai gần kề mà giúp được.
Hôm ấy là một ngày cuối mùa xuân, bầu trời xám xịt, lạnh lẻo và ướt át. Buổi chiều Đắc lên rừng phát rẫy trồng sắn và lấy củi về cho nhà bếp. Như mọi lần, khi về qua nhà chị Vày anh thường ghé vào thăm các cháu và xin nước uống. Ngôi nhà hoàn toàn vắng lặng, chỉ có tiếng lợn kêu, chắc là bị đói. Anh lên tiếng gọi nhưng không có tiếng trả lời. Có lẻ các cháu đang đi chăn trâu và chị Vày lên rẫy. Anh vác củi lên vai và ra khỏi cổng. Đột nhiên có tiếng chó gừ gừ nghe là lạ. Anh dừng lại, nhìn quanh. Phía gốc mít cuối sân vườn, kề bên đống rạ, con chó vàng đang hít hít bên đầu một người nằm bất động. Chị Vày! Đắc vất vội bó củi chạy nhanh đến chổ chị Vày đang ngất xỉu. Chị Vày thở thoi thóp, toàn thân lạnh cóng. Đắc vội bế thốc chị chạy nhanh lên cầu thang, đưa chị vào giường. Anh đắp chăn ấm rồi lục tìm trong túi áo hộp dầu cù là xoa cho chị. Cũng may, kể từ ngày đi bộ đội, theo thói quen bao giờ anh cũng thủ sẳn trong người một hộp dầu cao để đề phòng bất trắc. Chị Vày quá yếu, xoa mãi mà không sao nóng lên được. Đắc đành đánh bạo xoa dầu vào bên trong áo, khắp lưng, khắp vùng ngực, vùng bụng. Chừng mươi, mười lăm phút sau thì toàn thân chị Vày đã dần dần ấm nóng lên. Lúc này Đắc mới nghỉ đến chuyện đi nhóm lửa cho chị sưởi và pha nước ấm cho chị uống. Chị Vày đã khá hơn nhiều. Bây giờ Đắc mới biết chị đang mang thai tháng thứ ba. Cũng may mà anh còn kịp cứu được hai mẹ con. Từ hôm ấy, mỗi lần gặp, chị Vày lại cứ cám ơn Đắc mải. Nước mắt lưng tròng, chị nói nếu không có Đắc thì chắc hôm ấy chị không còn sống để nuôi các cháu và cũng khó mà giữ được giọt máu của anh Chấn đã gửi lại cho chị!
Việc Đắc cứu sống chị Vày anh dấu nhẹm không cho ai biết, kể cả Hưng và Thịnh. Khi mọi việc đã xong anh mới cảm thấy ngượng ngùng. Vốn tính cẩn thận, anh dặn chị Vày đừng kể chuyện này với ai cả. Với anh, việc cứu giúp chị Vày có gì là lớn lao và đáng kể đâu. Ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng đều làm vậy thôi. Chị Vày cũng không kể cho ai ngoài anh Chấn khi anh từ chiến trường về, gần chục năm sau đó. Vì vậy mà suốt mấy chục năm qua , từ bạn bè đến bà con dân bản không một ai biết được việc này.
Còn với Đắc, chuyện chỉ bình dị nhỏ nhặt vậy thôi, nó lẩn vào giữa bao nhiêu chuyện đời thường, nên ít khi anh nhớ đến. Anh trở về thăm lại bản Nà Ma cũng chỉ như mọi người, đâu biết là có một người "con trai" mong chờ mình đến thế...
*
Ba năm đã trôi qua kể từ lần trở lại bản Nà Ma. Lớp chúng tôi lại họp mặt thường niên trên một con tầu du lịch chạy dọc sông Hồng. Lần này chúng tôi tập hợp được tới một nửa số bạn của cả lớp. Nhiều bạn tận miền Nam và các tỉnh xa điện về tỏ ý rất tiếc không có điều kiện tham dự buổi họp mặt. Khó có thể nói hết được sự vui thích và hào hứng khi lâu lâu lại có dịp cùng nhau như thuở thiếu tời. Ai cũng cảm thấy như mình trẻ lại, như thuở sinh viên. Chúng tôi chia nhau chiếc bánh, điếu thuốc, chén bia, và chia nhau cả nụ cười dường như bất tận. Tuy nhiên, lần này chúng tôi lại kém vui khi mọi người nhắc đến ông Đắc. Ông Đắc đã ra đi ở tuổi 65, mới cách đây chưa tới một trăm ngày! Chúng tôi để một phút mặc niệm người bạn mà chúng tôi luôn yêu mến. Ông Đắc đã ra đi, thế mà lớp tôi vẫn chưa làm được cái việc đã hứa với ông là tổ chức liên hoan cho cha con ông họp mặt. Công việc thường nhật cuốn hút nên mọi người sao nhãng chuyện này, thật đáng tiếc. Chúng tôi cảm thấy có lỗi với người đã khuất. Mấy năm qua ông ốm yếu, lại bị xuất huyết nảo nên chắc là không thể đi đâu được. Mà cậu Đắc thì cũng không thể về tìm ông bởi ai cũng biết hoàn cảnh gia đình cậu ta ở xa, lại khó khăn thiếu thốn. Mọi người chỉ đoán vậy thôi vì lâu nay ông sống ở quê nên cũng không ai biết rõ. Vậy là câu chuyện "bố con" thành bỏ lửng, chẳng biết đã đi đến đâu. Hôm ông mất, bạn bè biết hơi muộn không kịp về tiễn đưa, mấy ngày sau mới về viếng mộ. Bà vợ đang đi viện, chúng tôi chẳng hỏi han được gì nhiều. Mọi người lại đem chuyện cũ ra bàn, đầy ân hận và cảm thương. Câu chuyện của chúng tôi đang ồn ào thì bỗng có một ông khách mà chúng tôi không quen biết, cùng đi trên chuyến tàu nói xen vào:
- Tôi hỏi khí không phải, có phải các bác đang nói về nhà ông Đắc ở Nho Quan, Ninh Bình phải không ạ ?
- Vâng, thế bác quen ông ấy à ?
Ông khách đã lớn tuổi thủng thẳng nói:
- Nghe các bác nói chuyện là tôi đoán ra ngay. Chẳng là, tôi cùng quê với ông ấy, lại có họ hàng xa. Ông ấy ở ngạch trên, tôi gọi là anh. Hôm ông ấy mất, tôi có về đưa. Thật tội, về cuối đời ông ấy ốm yếu luôn nên gia đình cũng hơi túng bấn. Hai cô con gái đều lấy chồng xa, bà vợ cũng chẳng khoẻ khoắn gì. May mà còn có anh em họ hàng bên cạnh. Câu chuyện các bác kể làm cho tôi ngộ ra một việc. Tôi nghe kể, sau đám tang độ mươi ngày gì đó có một anh người dân tộc tìm về quê ông và xin chịu tang như một người con. Không ai ngoài bà vợ ông Đắc biết anh ta. Mọi người cứ xì xào bàn tán là ông Đắc có con riêng. Mà rất lạ là bà Đắc cũng ôm lấy cậu ấy mà khóc, gọi con như chính con đẻ của mình. Bà ấy không chịu tiết lộ gì về người con trai này nên chúng tôi cứ bàn ra tán vào mải. Chúng tôi mừng cho ông là có đứa con nối dõi tông đường. Thế là rõ rồi, ông ấy có con riêng từ hồi đi sơ tán.
Vậy ra là họ đã kịp nhận bố con. Ông Đắc đã thật sự có một đứa con trai, một đứa con như từ trên trời bất chợt rơi xuống cho ông!

2005

Không có nhận xét nào: