Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2009

Bài thơ tình ngày ấy

Bài thơ tình ngày ấy

-Ghi chép-

Trưa hè nắng như đổ lửa. Chiếc quạt trần trong phòng tôi chạy ở tốc độ cao nhất mà cũng không thể xua đi cái nóng bức ngột ngạt. Mồ hôi nhễ nhại, tôi định vào phòng tắm, dội vài gáo nước cho dịu người. Bỗng có tiếng chuông cửa réo vang. Thì ra người đến thăm tôi là Đại tá Hoàng. Với chiếc xe đạp lóc cóc, chiếc mũ vải hẹp vành, ông đại tá đã ngoài bảy mươi bất chấp cả nắng hè chói chang bỏng rát! Nhìn nét mặt đầy phấn khích, tôi biết ông đang có chuyện gì vui. Thế rồi chẳng cần chờ tôi hỏi, ông đã kể lại cuộc viếng thăm một người bạn cũ mà ông vừa tới...
... Trong cuộc họp mặt các bạn chiến đấu Trung đoàn cũ hôm qua, một người bạn cho tôi biết địa chỉ chị Thanh Vân, người nữ Y tá đã từng cứu giúp tôi cách đây trên nữa thế kỷ. Từ lâu tôi vẫn mong tin chị nên sáng nay lập tức đi tìm. Cái xóm Hạ Hồi có nhiều ngóc ngách, địa chỉ lại rất mơ hồ nhưng lần mò mãi rồi tôi cũng tìm ra nhà chị. Ra đón tôi là một bà cụ quá tuổi “thất thập” tuy có vẻ già nua nhưng vẫn còn nhanh nhẹn như độ tuổi năm mươi. Bà chào tôi bằng giọng Huế chuẩn, trầm ấm và thân mật. Một thoáng ngỡ ngàng cả khách và chủ. Mặc dù biết chắc là chị, nhưng tôi cố tìm lại những nét thân quen thuở nào mà rất khó hình dung. Còn chị, chị không tài nào nhớ được người đối diện mình là ai... Hơn năm chục năm rồi, thời gian đã tạo thêm bao đường nét trên khuôn mặt mỗi người, đã làm mờ đi bao hình ảnh và sự việc... Là một Y tá rồi trở thành Bác sĩ, chị đã cứu chữa biết bao bệnh nhân, chị làm sao nhớ về tất cả! Chị mời tôi vào nhà, rót nước, nhưng trên khuôn mặt thể hiện một sự đăm chiêu, kiếm tìm trong ký ức...
Sau khi nhấp ngụm trà, tôi mở đầu câu chuyện bằng cách đọc một câu tiếng Pháp:
“Tout finit afin que tout recommence; tout meurt afin que tout vive”(*)

Tôi vừa đọc xong, chị lặng đi rồi bỗng nắm chặt lấy tay tôi: “ Ôi, chú Hoàng, chú đấy à!”. Câu triết lý ấy liên quan đến một người mà cả tôi và chị không thể nào quên. Người ấy đã vĩnh viễn đi xa nhưng câu anh thường nói như còn văng vẳng đâu đây...
Mùa hè 1948 tôi bị thương ở mặt trận Tây Nghệ An, về nằm y xá của trung đoàn. Y xá là một dãy lán nhỏ nép mình dưới tán lá rừng cọ của một xóm nghèo heo hút phía tây huyện Thanh Chương. Ngay ngày đầu nhập trạm là tôi đã quen hết các bác sĩ, y tá, hộ lý và tất cả thương bệnh binh. Cái thời đó con người rất dễ gần nhau, rất dễ cảm thông và sống hoà hợp như những người anh em ruột thịt. Một người mới xuất hiện thì chỉ không đầy 30 phút sau là tất cả đều quen, tất cả đều dường như coi nhau là bạn cũ. Vật chất tuy thiếu thốn nhưng tình cảm lại rất dồi dào. Khi đó hầu như không có khái niệm “tài sản riêng”. Từ cái bát ăn, đôi đũa cho đến mảnh chiếu, tất cả đều có thể dùng chung. Cán bộ và nhân viên của trạm thì thật sự là “mẹ hiền”, lo lắng cho người bệnh bất kể lúc nào. Thuốc men thiếu thốn nhưng sức khoẻ được hồi phục rất nhanh có lẽ cũng là nhờ thế. Bây giờ vào các bệnh viện lớn, hiện đại, thuốc men và máy móc có thừa mà sao cứ thấy lo ngại, thiếu hẳn một niềm tin! Người mà tôi tiếp xúc đầu tiên chính là chị Thanh Vân. Chị là người làm bệnh án cho tôi. Khi ấy chị đội mũ trắng và đeo khẩu trang nên tôi tưởng chị là người lớn tuổi. Thì ra chị mới 23, chỉ hơn tôi 3 tuổi! Chị Vân nói giọng Huế, một chất giọng mà ai nghe cũng mến, cũng khó lòng quên. Chị vốn là học trò trường Đồng Khánh, một trường nữ học tiếng tăm. Chị nói tiếng Pháp rất chuẩn, đặc biệt là ngữ điệu và trọng âm. Như một thói quen, cả chị và tôi khi chuyện trò thường hay chêm vào đôi câu tiếng Pháp, một thành ngữ, một câu thơ hay một câu triết lý. Có lẽ đó là một nhược điểm có tính cố tật của tầng lớp tiểu tư sản trí thức thời ấy. Tuy nhiên nhờ nhược điểm này mà sau nửa thế kỷ chị vẫn nhận ra tôi! Bản thân tôi đã từng là học trò trường Thuận Hoá, cách trường chị không xa nên cũng có nhiều chuyện để nói với chị những gì về trường chị, về quê hương chị, về thành Huế mộng mơ mà tôi từng gắn bó ngót 5 năm đi học. Chẳng mấy chốc mà chị Vân đã coi tôi như một người em út, thường chăm sóc hỏi han mỗi khi có dịp. Có khi đi đâu về chị lại cho quà như với một bé em.
Cái lán tre lợp bằng lá cọ được ngăn thành từng gian nhỏ đủ cho 2 bệnh nhân nằm. Phên ngăn là tấm nứa đan, thưa thớt và mỏng mảnh. Bên cạnh gian tôi nằm là một gian cách ly, chỉ có một bệnh nhân gầy gò ốm yếu. Anh đã chủ động nói qua vách lán hỏi thăm và làm quen với tôi. Tuy thế, vì anh quá yếu mệt nên 3 ngày sau tôi mới thấy mặt anh. Đó là một người đàn ông rất khó đoán tuổi. Khuôn mặt anh gầy tóp, hai gò má nhô cao, đôi môi thâm khô nẻ. Rất lạ là đôi mắt anh vẫn sáng và linh hoạt. Anh tên là Nam Thắng, một học trò trường Bưởi, đã nhận bằng tú tài toàn phần trước đó 2 năm. Lúc đầu tôi rất ngại gần anh vì anh bị lao đã vào giai đoạn cuối. Thời ấy, lao là một trong “tứ chứng nan y”, rất dễ lây lan và hầu như vô phương cứu chửa. Người ta tránh bệnh nhân lao cũng gần như bệnh hủi. Vì thế tôi cũng rất ngại tới gần anh. Nhưng trong tôi chẳng biết vì đâu lại nẩy sinh một tình cảm yêu thương anh đến lạ lùng, nên dần dần tôi cứ xích lại gần anh. Nhiều người nhắc khẽ tôi điều đó nhưng tôi không còn sợ nữa. Anh Thắng trước đây đã từng tham gia hoạt động bí mật trong hội đoàn học sinh, sau tham gia tổng khởi nghĩa ở Hà Nội rồi vào Vệ Quốc Đoàn. Anh là trung đội trưởng của một đơn vị cùng trung đoàn nhưng chúng tôi chưa có dịp gặp nhau. Anh nhiễm bệnh đã lâu nhưng mải chiến đấu nên khi về thì quá muộn. Cuộc đời anh chỉ còn tính tháng tính tuần!
Thường sau bữa cơm chiều chúng tôi hay đi dạo quanh đồi cọ hoặc ven bờ suối. Tôi rất thích đi cùng anh bởi vì ở anh là cả một kho chuyện và một từ điển sống. Anh nói anh rất thích tiếng Pháp vì đó là một thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, ngôn ngữ của thi ca và nghệ thuật. Anh thường đọc những câu ngụ ngôn, những câu thơ tiếng Pháp. Anh biết hát, biết vẽ và biết làm thơ. Nhiều hôm anh mượn được cây đàn măng-đô-lin đem ra bờ suối, vừa đệm đàn vừa hát “Suối Mơ”, nghe đến lịm người! Những lúc ấy, chị Vân ngồi lặng im và mắt như hướng về một cõi xa xăm khuất sau rặng núi. Chị đã thất lạc gia đình từ sau ngày toàn quốc kháng chiến. Nghe đâu cha chị đang ở chiến khu Ba Lòng. Còn anh Thắng cũng đã lâu không hề có một chút tin tức nào của người thân từ trong lòng Hà Nội bị quân thù tạm chiếm. So với 2 người, tôi có may mắn hơn. Mặc dầu 3 năm nay chưa hề gặp lại, nhưng tôi đã nhận được tin cha mẹ và các em tôi đang tản cư ở ngay đất Ngệ An này, cách đây chỉ chưa đầy trăm cây số. Những buổi chiều như thế chúng tôi thường chăm chú ngồi nghe anh Thắng hát và mơ về một “suối Mơ” của mai sau. Còn chị Vân thì thỉnh thoảng lại ngâm thơ cho chúng tôi nghe. Giọng Huế có lẽ là chất giọng dành riêng cho thơ, bởi vì khi ngâm thơ bằng giọng Huế ta dường như thấy từng lời từng chữ thấm dần rồi lan đến mọi huyết quản ly ty. Những câu thơ Hàn Mặc Tử “Đây thôn Vỹ Dạ” được nghe chị ngâm tôi mới thực hiểu hết cái đẹp đến tuyệt vời mà xưa kia tôi chưa nhận biết. Những khi ấy khó mà hình dung được chị là một y tá rất thạo nghề, lại rất tận tâm, luôn được mọi người nể trọng.
Dần dần rồi tôi cũng nhận biết tình yêu giữa 2 anh chị. Thì ra họ đã yêu nhau từ trước khi tôi đến trạm. Đó là một tình yêu thật đặc biệt vì vừa cuồng si lại vừa vô vọng. Anh Thắng đã nói với tôi rằng anh yêu chị Vân với một tình cảm kỳ lạ vì do bệnh tật anh chưa bao giờ dám có ý nghĩ được gần gũi chị, càng chưa dám nghỉ tới hôn nhân! Anh chỉ thể hiện tình cảm của mình qua ánh mắt nồng cháy như tia lửa mặt trời. Một lần anh nói với tôi: Xuân Diệu viết “yêu là chết trong lòng một ít”, nhưng tình yêu của Vân thì ngược lại, đã thực sự làm cho cuộc sống của mình kéo dài thêm!
Hàng ngày ngoài nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân, trong đó có anh, chị Vân thường rất bận bịu trong việc kiếm tìm thực phẩm, rau xanh về cải thiện cho bệnh nhân và bồi bổ cho anh. Hơn ai hết, chị hiểu chỉ có tăng thể lực thì anh mới hy vọng cầm cự được ít nhiều. Một lần chị đi đâu về xách theo một gói thịt đùm trong lá chuối. Chị bảo với chúng tôi là thịt thú rừng mà dân bản vừa săn được. Khi nhận bát cháo chị đưa, tôi thấy anh hơi ngần ngại, nhưng trước ánh mắt khẩn cầu của chị anh đã ăn hết với một vẻ quyết tâm rất lạ lùng. Nhiều lần như vậy tôi sinh nghi nên nhằm lúc anh vui mới tò mò hỏi chuyện. Thì ra đó không phải là thịt thú rừng như chị nói. Đó là món rau thai mà mỗi lần bà con quanh vùng nhờ chị đỡ đẻ chị đã mang về! Anh biết rỏ điều đó nhưng vờ như không biết. Mặc dầu rất e sợ nhưng chiều ý chị nên anh đã cố ăn! Anh đã sống thêm được nhiều tháng so với ước đoán ban đầu. Tình yêu đã làm nên điều kỳ diệu ấy.
Một buổi chiều tôi ra bờ suối thì thấy anh đang ngồi một mình, tư lự. Tôi khẽ khàng đến bên cạnh anh, ngồi xuống. Hình như trong khoé mắt anh ngấn nước, tôi vội nhìn ra hướng khác. Chúng tôi ngồi rất lâu như vậy. Bỗng anh bảo tôi :”Hoàng ạ, có lẽ mình sắp ... ra viện!” Thấy tôi ngạc nhiên, anh nói thêm: “Mình nằm đây lâu quá rồi mà, sốt ruột lắm!” Tôi cứ nghĩ mãi về 2 chữ “ra viện”, nó có cái gì đó không bình thường. Tôi tìm gặp chị Vân nói lại nhận xét của mình. Đắn đo một lát chị mới nói cho tôi biết về cuộc chuyện trò giữa chị và anh trước đó. Anh Thắng hỏi thẳng chị về bệnh tình của anh. Chị cố làm ra vẻ vui bảo anh là có nhiều biến chuyển tốt. Tuy nhiên ánh mắt chị đã phản lại chị, chị đành lấy cớ có chuyện gấp, chạy đi. Cử chỉ ấy làm sao qua được mắt một người tinh tường như anh? Bấy giờ cái khó khăn lớn nhất là không tìm đâu ra thuốc đặc trị, mà bệnh tình của anh thì đã đến tột cùng vô vọng! Trước đó nhiều lần tôi tình cờ bắt gặp chị đi tha thẩn một mình, cặp mắt đỏ hoe. Thì ra chị đã cảm nhận được giờ chia ly sắp tới. Chị như người mẹ đứng trên bờ nhìn con mình bị nước lũ cuốn đi mà không cách gì cứu được. Chị khổ đau bất lực không biết làm gì hơn để cứu giúp một bệnh nhân, cứu giúp một người mà mình yêu quý.
Trời chuyển sang thu. Tôi đã lành vết thương và sắp trở về đơn vị. Một hôm chị Vân nhận được quyết định ra Việt Bắc dự khoá đào tạo Quân y sĩ. Quân lệnh thời chiến không thể nào thoái thác, đành gác tình riêng để đảm bảo việc chung! Chị phải cấp tốc lên đường. Cuộc chia tay của chị với anh thật sự là một cuộc biệt ly. Anh gắng gượng cố đưa tiễn chị ra tận mé rừng. Tôi đi vượt lên trước để 2 người thoải mái chuyện trò. Khi chia tay, anh lặng lẽ trao chị chiếc ba lô và quyển nhật ký, hai vật quý giá và bất ly thân còn lại của anh. Chắc mọi nỗi niềm sâu kín anh đã gửi vào trong quyển sổ nhỏ ấy rồi! Chị rời trạm được chừng 2 tuần thì anh cũng ra đi, về cõi vĩnh hằng. Nhưng trước đó mấy hôm tôi đã xuất viện nên không được tiễn đưa anh!
Hôm nay gặp lại chị Vân, chị đưa quyển nhật ký của anh Thắng tặng năm nào ra cho tôi xem. Hơn nửa thế kỷ qua quyển sổ nhỏ đã theo chị trên mọi nẻo đường. Trong quyển nhật ký ấy, ở trang cuối cùng là một bài thơ anh viết vội trước lúc chia tay, màu mực đã nhạt nhoè, chỉ còn đọc được vài đoạn:

Em đi
-Tặng TV yêu quý-

Ngày mai em đi
Buồn sao buồn thế
Còn mong ngóng gì
Chiều chiều bên suối!

Ngày mai em đi
Bao giờ trở lại!
Điệu đàn khắc khoải
Còn hoà giọng ai?

Ngày mai em đi
Biết còn gặp lại!
Núi thẳm sông dài
Tình anh vời vợi...
Bài thơ tình anh dành riêng tặng chị mà sao quặn xé lòng tôi! Tôi tin chắc rằng không riêng mình chị mà các con cháu chị sau này cũng sẽ tiếp tục thay chị giữ gìn quyển nhật ký và bài thơ như một vật gia bảo, một biểu tượng của tình yêu vĩnh cửu!...

10/1999


(*) Tất cả chấm dứt để rồi tất cả lại khởi đầu;
tất cả chết đi để rồi tất cả lại nẩy sinh.

Không có nhận xét nào: