Thứ Tư, 22 tháng 10, 2008

Trên chuyến tàu
giáp tết


-Truyện ngắn-

Chuyến tàu khách Thống nhất khởi hành từ Hà Nội, chạy suốt 42 giờ đã làm cho chúng tôi xích lại gần nhau. Tôi và chị cùng trong một ngăn nhỏ, hai chiếc giường nằm đối diện nhau nên không thể không làm quen và dốc bầu tâm sự trên quảng đường dài. Người phụ nữ ấy cũng trạc tuổi tôi, đôn hậu mà rắn rỏi. Nhìn vẻ ngoài khó ai đoán chị là một trí thức, một nhà khoa học kỹ thuật. Mãi tới giờ thứ 35, 36 gì đó, khi đã quá Nha Trang, chị mới kể về mục đích chuyến đi và về điều sâu kín của mình. Chị đi tìm mộ người yêu...
..."Dạo ấy, tôi mới học năm thứ nhất. Chiến tranh đang ngày càng khốc liệt, bom đạn không từ một thành phố hay thị xã nào. Tất cả các trường đều sơ tán về miền núi hoặc nông thôn xa xôi hẻo lánh. Trường tôi sơ tán lên tận miền núi sâu Bắc Thái. Mới xa nhà lần đầu, nỗi nhớ bóp nghẹt con tim, tôi ngóng đợi từng ngày từng giờ đến tết để được về thăm quê, mặc dầu sự ngóng đợi ấy có thể chỉ là điều vô vọng. Điều kiện giao thông vô cùng khó khăn, trong khi muốn về quê tôi phải đi xa hơn bốn trăm cây số! Khó khăn tuy nhiều nhưng tôi không nản. Tôi chỉ lo sợ nhà trường không cho về phép tết. Có lẽ ai mới xa nhà lần đầu cũng đều có một tâm trạng và nung nấu một quyết tâm như thế. Về quê, hai tiếng ấy cứ rạo rực, cứ thắc thỏm, cứ se thắt trong lòng suốt cả tháng trời giáp tết. Thời gian này lại là lúc thi hết học kỳ. Chúng tôi thường ngồi ôn tập ngoài bìa rừng, ngay bên miệng hầm trú ẩn, giữa những ngày đông rét buốt. Máy bay Mỹ vẫn bắn phá liên miên, nhất là khu vực quanh Hà Nội. Trong niềm đau xót, lo lắng chung về những hy sinh mất mát mà mọi người đều mang nặng như nhau, vẫn có những khoảnh khắc lòng tôi nặng trỉu vì nỗi lo riêng mà không hề dám nói ra, ngay với cả các bạn thân. Tôi sợ nỗi lo lắng ấy là một điều lạc lõng!
Gần tết tôi nhận được thư anh trai đang sơ tán tại Hiệp Hoà (Hà Bắc) báo tin anh được về phép tết và anh sẽ chờ tôi muộn nhất là đến chiều 29 tết tại nơi cơ quan anh sơ tán, nếu tôi được về cùng. Nhận được thư anh, lòng tôi càng thắc thỏm không yên. Tay cầm quyển vở, mắt nhìn trân trân vào đó mà tôi hầu như không đọc được chữ nào. Trong đầu tôi chỉ có vô số kế hoạch quanh chuyến về quê, về những gì sẽ xẩy ra khi tôi gặp mẹ, gặp anh chị em và bè bạn. Cha tôi đã mất lâu rồi, từ hồi kháng chiến. Mẹ tôi chắc rất mong nhớ tôi và rất cần chúng tôi trong những ngày tết nhất thế này.
Chiều 26 tết, anh lớp trưởng công bố danh sách những người được về tết. Tôi bị sốc thật sự khi không thấy có tên mình! Thì ra khi lên danh sách, người ta nghĩ nhà tôi quá xa nên việc ở lại là điều hiển nhiên. Mấy đêm liền tôi trùm chăn khóc rưng rức. Thế là tất cả sự hy vọng chờ mong đều đổ vỡ! Ngày 29, các bạn được về tết đã lên đường, tôi không nhịn được nữa, chạy ra bìa rừng ngồi khóc hu hu! Những người ở lại đều đang lo chuẩn bị đón tết nên hầu như không ai để ý đến cái góc bìa rừng ấy, mãi gần trưa thấy thiếu vắng mới chạy đi tìm. Mọi người vừa cười, vừa bực, lại vừa thương, cố tìm lời an ủi. Tôi càng thấy tủi thân, khóc to hơn. Anh lớp trưởng là cán bộ đi học, chúng tôi coi như người anh cã, cố an ủi tôi mãi không xong đành lên xin phép chủ nhiệm khoa cho tôi về! Thế là gần 2 giờ chiều tôi nhận được giấy phép và tức tốc chạy bộ ra đường cái vẫy xe! Sau hai chặng đi nhờ xe bộ đội và cuốc bộ gần chục cây số, tôi lần mò đến được nơi sơ tán của anh tôi thì đã ngót 8 giờ tối! Anh tôi đã lên đường được gần hai tiếng. Tôi lại bị một cú sốc giáng xuống đầu! Tự nhiên tôi thành một kẻ bơ vơ, không biết nên đi hay nên trú lại. Chị nghĩ gì khi một cô gái trẻ, nhỏ nhoi, yếu ớt, lạ nước lạ cái và hầu như không một xu dính túi lại rơi vào hoàn cảnh ấy? Tôi đành lủi thủi vừa đi vừa khóc theo hướng đường mà người ta chỉ, giữa màn đêm tối đen như mực! Từ đấy về Hà Nội hơn bốn chục cây số đường chứ có ít gì đâu! Trời thì tối, mắt lại ướt nhoè, đường sống trâu làm tôi bổ ngang bổ ngửa. Cái ba lô nhẹ tênh mà lúc này trở nên nặng trịch. Con đường vắng tanh vắng ngắt. Bình thường tôi rất sợ ma nhưng lúc này hầu như không hề nghĩ tới. Tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất là làm sao tới được Hà Nội để kịp lên tàu về quê. Hồi ấy về mặt an ninh thường rất tốt, hầu như không có cướp bóc bao giờ. Tuy thế, là con gái đi đêm đi hôm ai mà biết trước sẽ có sơ sẩy gì không? Sau này mọi việc đã qua tôi mới thấy rùng mình khi nghĩ về điều ấy!
Gần về tới cầu Nét, nơi mà xung quanh chỉ toàn đầm và ruộng ngập nước, xóm làng xa lắc xa lơ, tôi bỗng nghe tiếng xe đạp lóc cóc sau lưng. Tôi vừa mừng vừa lo vì chưa biết đó là may hay rủi. Chiếc đèn pha đỏ quạch quét một vệt nhỏ như vệt đèn người đi soi ếch. Một người đàn ông to lớn nhấp nhổm trên xe, cố vượt qua những ổ gà, ổ trâu, liếc mắt nhìn tôi rồi ... đi thẳng! Tôi nhìn theo vừa mừng lại vừa thầm oán trách ông ta. Tôi càng thấy tủi thân và hình như tiếng nấc to hơn. Bỗng người đàn ông quay lại. Trống ngực tôi đánh thùng thùng. Tôi chuẩn bị tinh thần để đối phó với điều tồi tệ nhất có thể xẩy ra. Tôi quơ vội nắm đất và đứng sang vệ đường, thủ thế...
- Cô gì ơi, muộn thế này rồi mà cô còn dám một mình đi qua đây à?
Tôi khiếp sợ, đứng im không trả lời. Tuy vậy tôi cũng nhận ra được giọng nói trầm ấm và đầy thiện chí của anh ta. Đó là một thanh niên có lẽ chỉ hơn tôi chưa đến chục tuổi. Anh ta ái ngại nhìn tôi, không biết nói gì thêm. Tôi gầm ghè nhìn anh ta với thái độ đầy ngờ vực và cứ đứng yên thủ thế. Anh ta dắt xe đi rồi nói với lại một câu:
- Nếu cô ngại thì cứ đi cách xa tôi một khoảng. Tôi không nỡ để cô đi một mình trên đoạn đường vắng vẻ này!
Tôi bắt đầu hiểu được thiện ý của anh ta, nhưng vẫn cảnh giác đề phòng. Tôi biết là không nên tin vào một người mà mình chưa biết gì về người ta. Nhiều khi tội ác được che đậy dưới một bộ mặt thánh thiện. Mà hoàn cảnh lúc này thì rất dễ tạo nên những điều bất trắc cho một cô gái yếu đuối như tôi. Cảnh giác là không thừa, phải không chị? Tôi lầm lũi đi cách anh ta chừng hai chục mét, cố nén tiếng nấc luôn chực bật ra khỏi miệng. Trước mắt tôi, chập chờn bóng dáng một người đàn ông to lù lù như con gấu, dắt chiếc xe cà tàng đi mải miết, không hề nhìn lại. Tôi cứ lầm lũi cố bước theo cho kịp, với một khoảng cách đủ độ an toàn. Lúc này có lẽ vì lo đề phòng bất trắc nên tôi không còn nghĩ gì đến nỗi ấm ức trong lòng. Một câu hỏi quẩn quanh trong đầu tôi, anh ta là người thế nào, tốt hay xấu, liệu có thể tin cậy để cùng đi trên một chặng đường tối tăm vắng vẻ thế này không? Thôi thì cũng đành nhắm mắt đưa chân chứ biết làm sao được. Số phận tôi lúc này phụ thuộc vào cái người đàn ông không quen biết ấy!
Chừng vài mươi phút sau anh ta mới lại lên tiếng:
- Đi thế này thì hết đêm chưa chắc đã về được Hà Nội. Nếu cô không ngại thì lên xe tôi đèo giúp ra Từ Sơn mà vẫy ô tô.
Tôi đắn đo một lát rồi đánh bạo đến gần anh ta. Người thanh niên ấy lặng lẽ tháo dây buộc gói hành lý trao cho tôi cầm và bảo tôi ngồi lên poóc ba ga. Tôi làm theo một cách máy móc như một kẻ bị thôi miên. Anh thanh niên cố gò lưng đạp, chiếc xe nhảy chồm chồm như đi trên sườn núi đá. Được một lát tôi thấy anh thở phì phò như sắp đứt hơi. Tự nhiên tôi cảm thấy ái ngại và thương cho con người tự chuốc vạ vào thân ấy. Tôi vẫn không hé răng nói nửa lời. Bỗng một tiếng nổ đanh gọn, chiếc xe loạng choạng rồi dừng lại. Tôi vội nhảy xuống và hiểu điều gì đã xẩy ra. Anh thanh niên đứng ngẩn người, lắc đầu rồi dắt xe và ra hiệu cho tôi theo. Lại im lặng đi như lúc ban đầu, chỉ có khác là bây giờ tôi đi gần anh hơn. Mãi rồi chúng tôi cũng đến được Từ Sơn, nơi thỉnh thoảng có những đoàn xe lao nhanh về hướng Hà Nội. Lúc này có lẽ đã nửa đêm. Thị trấn tối om như một làng quê. Một vài nhà còn đỏ lửa, chắc họ luộc bánh chưng. Dù chiến tranh ác liệt nhưng không ai có thể quên được hương vị tết truyền thống của dân tộc mình. Giờ này chắc mẹ tôi cũng đang ngồi bên nồi bánh, mong ngóng đợi tôi về! Nghĩ về mẹ, tôi gần như muốn khóc. Chúng tôi dắt xe đi, cố tìm một hiệu vá săm lốp. Thấy trước cửa một ngôi nhà có treo chiếc lốp cũ trên chạc cây, chúng tôi đánh liều gỏ cửa. Một ông già ngái ngủ, cầu nhầu ra mở cửa. Nhìn chúng tôi một lượt, không cần hỏi ông đã biết việc gì. Cũng không nói không rằng, ông vặn ngọn đèn dầu cho sáng lên rồi đi lục lọi hòm dụng cụ, một cái hòm đạn đã rỉ nghoèn. Vừa làm ông vừa bắt chuyện:
- Chắc hai vợ chồng đi sơ tán, về quê ăn tết hử? Sao đi muộn thế!
Chúng tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Tôi đỏ bừng mặt nhưng may mà ngồi khuất trong bóng tối. Vá xong săm, thấy chiếc lốp quá yếu, ông già đi lục tìm một lát rồi đem ra một chiếc lốp cũ, còn lành lặn hơn, thay vào. Khi thanh toán ông chỉ lấy 3 hào như một miếng vá thông thường lúc ban ngày. Anh bạn đường của tôi ái ngại trả thêm tiền nhưng ông không nhận. Chiếc lốp ông cho. Bây giờ khó mà tìm được một người tốt bụng thế, phải không chị? Thời bấy giờ con người ta rất dễ cảm thông, ít so bì tính toán, càng ít kẻ thừa cơ bắt chẹt như bây giờ. Chúng tôi cám ơn ông cụ rồi dắt díu nhau đi. Khi ra đường, tôi định chặn xe xin đi nhờ mà không được, anh lại phải đèo tôi. Về tới Yên Viên thì chợt có còi báo động. Anh lao xe rất nhanh vào một bờ ruộng để tránh đường lộ chính, nơi vẫn được coi là ... túi đựng bom. Chúng tôi nép vào một bờ ruộng khá cao, chờ đợi. Tiếng máy bay gầm rú, tiếng đạn pháo cao xạ nổ ầm trời. Quen bom đạn từ những ngày còn ở trong quê nên tôi không thấy sợ chút nào. Tôi chỉ thấy sốt ruột vì không biết bao giờ mới chấm dứt báo động. Anh bạn đường của tôi cũng vậy. Anh cứ như một thuyết minh viên, chỉ cho tôi biết từng vị trí mà máy bay địch đang oanh tạc, từng đường đạn pháo cao xạ hoặc tên lửa mà bộ đội ta bắn trả. Bây giờ tôi đã đủ tin cậy để bắt chuyện với anh. Anh tên là Lạc, công nhân cơ khí, có quê ở ngoại thành phía nam Hà Nội. Quê anh là vùng đất bãi sông Hồng, cuối huyện Thanh Trì. Anh không già như tôi tưởng, chỉ mới hai tư. Đó là một con người pha trộn nét thuần phác của một lực điền với nét tinh nhanh của người "có học". Thú thật là khi đó tôi không hề chú ý xem anh có đẹp trai không.
-Anh Lạc này, vì em mà hôm nay anh phải vất vả thế này, làm cả nhà nhà anh phải lo lắng cho anh, em thật ái ngại. Bố mẹ anh chắc đang sốt ruột lắm anh nhỉ?
-Em đừng nghĩ thế, giúp nhau một chút có đáng gì đâu. Đằng nào thì đêm nay anh cũng về tới nhà mà. Còn em chắc phải vất vả hơn nhiều. Mẹ anh mong anh nhưng bà cũng biết là đang chiến tranh nên anh có thể về mà cũng có thể không về ăn tết được. Mấy hôm trước, thấy xí nghiệp phải sản xuất gấp nên anh đã gửi thư về báo là có thể anh không về ăn tết. Nhưng thật tình anh cũng lo, nếu anh không về được thì mẹ anh buồn lắm. Bà chỉ có một thân một mình ...
-Em xin lỗi. Chắc bố anh đi xa?
-Ừ, bố anh đã đi xa, xa lắm. Ông hy sinh trong thành cổ Quảng Trị từ hồi tết Mậu Thân. Khi ấy anh đang học lớp 10. Thế mà đã 4 năm rồi. Dịp tết này cũng là dịp giỗ bố anh!
-Em xin chia buồn cùng anh. Em cũng mồ côi cha, nhưng mẹ em còn có mấy anh chị em bọn em. Mẹ em ở cùng chị dâu em nên em không phải lo lắng gì.
Bỗng nhiên tôi thấy anh im lặng, không nói năng gì thêm. Được một lát, tôi cố lên tiếng hỏi trước:
-Anh đã học xong phổ thông, lại là con liệt sĩ, thế tại sao anh không đi học nước ngoài hay học lên đại học?
-Anh đã nhận được giấy báo đi học nước ngoài, đi Đức, nhưng anh không thể đi vì mẹ anh đã già lại ốm yếu luôn. Anh cần đi làm để gần mẹ và giúp đở mẹ. Thật tình là lúc ấy anh còn muốn đi bộ đội hơn là đi học, nhưng anh không thể nào đi được. Anh vừa muốn thay vị trí của bố anh ở chiến trường, nhưng lại cần thay bố anh chăm sóc mẹ anh.
Tôi hầu như đã quên hết nỗi ấm ức trong ngày, kể cho anh về chuyến đi và về những nét chính của bản thân mình. Anh cứ thắc mắc tại sao tên tôi lại là Thuận Châu. Vui chuyện, tôi kể thật cho anh nghe. Hồi ấy cha tôi đang tham gia chiến dịch Tây Bắc thì nhận được tin tôi chào đời. Ông lập tức gửi thư về bảo mẹ tôi đặt tên con gái là Thuận Châu để kỷ niệm vùng đất mà ông vừa góp phần giải phóng. Mãi gần đây khi đã ngoài bốn chục tuổi tôi mới có dịp biết đến vùng đất mà mình mang tên, chị ạ! Cha tôi đã hy sinh khi tôi chưa tròn một tuổi, ngay ở vùng Tây Bắc này, chỉ vài hôm trước ngày toàn thắng.
Gần nửa giờ nằm chờ báo an chúng tôi đã biết thêm về nhau ít nhiều và cũng đã đủ tin cậy như hai người bạn lâu năm. Anh Lạc vừa làm công nhân vừa theo học hàm thụ đại học tại trường Đại học Bách Khoa đã được gần hai năm. Xí nghiệp anh đang sơ tán cách chỗ anh tôi chừng mươi cây số. Cuộc đời thật kỳ lạ, mới vài giờ trước đó tôi còn khiếp đảm khi thấy anh đi qua rồi vòng xe trở lại! Hết báo động, chúng tôi lại lên đường và khoảng hai giờ sáng thì về đến Hà Nội. Anh đưa tôi ra ga, cố chờ xem tôi có tìm được anh trai không. Thấy tôi trở ra với nét mặt đầy thất vọng, anh lựa lời an ủi và dứt khoát chờ tôi lên tàu mới đạp xe về quê. Lúc này tôi lại rơi vào một tình thế nan giải khác là không đủ tiền mua vé. Thấy tôi cứ lục lục đếm đếm hoài, anh hiểu ngay vấn đề và lặng lẽ nhét vào tay tôi mấy tờ giấy bạc. Tôi cứ lắc đầu nguầy nguậy không nhận, anh phải nặng lời:
-Thì cứ coi là anh cho mượn, khi nào có trả anh cũng được mà! Đi đường xa, thiếu tiền cô xoay xở làm sao?
Tôi vừa mừng vừa ngại, nhận món tiền anh trao và bắt anh ghi địa chỉ để khi ra sẽ gửi trả anh. Tờ địa chỉ do tự tay anh viết ấy tôi vẫn còn giữ tới tận bây giờ! Tôi nợ anh, đâu chỉ là tiền! Gần 4 giờ sáng tôi lên một chuyến tàu hàng, ngoái lại thấy anh còn đứng trên sân ga, vẫy vẫy. Đó cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh! Lúc này anh đã như một người anh trai thật sự. Hai giọt nước mắt bỗng lăn dài trên má tôi!...
Ngày hôm sau, gần giao thừa tôi mới về tới quê. Vất chiếc ba lô lên ghế, tôi chạy lại ôm chầm lấy mẹ tôi, khóc nức khóc nở. Cả nhà vừa mừng vừa hốt hoảng tưởng đã xảy ra việc gì! Lúc này tôi mới thấm hết nỗi lo sợ mà mình đã mang theo trong suốt chặng đường. Vừa thấy anh trai, tôi giơ hai tay đấm tới tấp vào người anh như một kẻ mất trí. Tôi trút tất cả nỗi ấm ức vào anh như chính anh là thủ phạm gây nên nỗi thống khổ của tôi! Rồi cả nhà cũng hiểu ra sự thật và càng xuýt xoa khen người con trai đã giúp tôi vượt qua tất cả. Có lẽ lúc ấy ở ngoại thành Hà Nội anh đang vui giao thừa cùng bè bạn và đã quên cô bé mà anh từng cưu mang giúp đở! Những người làm việc thiện có mấy khi họ nghĩ đến sự hàm ơn!
Sau tết tôi trở về khu sơ tán ngay nên không thể đến gặp anh Lạc được. Tôi nhờ anh trai tôi đến chổ anh trả giúp món nợ. Chừng một tháng sau tôi bỗng nhận được thư anh. Cầm phong thư mà tim tôi đập thình thình, điều tôi chưa bao giờ tưởng tượng có thể xẩy ra. Tôi cũng không ngờ là mình đã mong tin anh đến vậy. Thế là kể từ ngày ấy chúng tôi thường xuyên trao đổi thư từ cho nhau như hai người bạn chí thiết. Tôi kể cho anh nghe về từng môn học, về đời sống và sinh hoạt của bọn sinh viên chúng tôi. Anh kể cho tôi về cuộc sống vừa sản xuất vừa sẳn sàng chiến đấu của xí nghiệp anh, về những chuyện ... trên trời dưới đất. Tuyệt nhiên anh không bao giờ nói ra dù chỉ là một câu ám chỉ về tình cảm riêng tư. Tất nhiên là tôi cũng vậy. Tôi chỉ mong chờ một dịp gặp lại anh để nói lời cám ơn từ cửa miệng.
Lại bước vào một mùa thi...
Chiều ấy tôi nhận được thư anh. Cầm bức thư trên tay, tôi cảm thấy như có điều gì khang khác. Linh tính của tôi đã không nhầm!
Thuận Châu yêu quí, đất nước đang vào những ngày nước sôi lửa bỏng nên anh đã tình nguyện ghi tên nhập ngũ và đã được chấp thuận. Ngay sáng sớm mai anh sẽ lên đường vào B. Có lẽ còn lâu mới có dịp gặp lại em để nói với em một điều khó nói mà bấy lâu anh hằng ấp ủ. Xin em đừng trách anh về sự vội vã này, nếu như em không muốn. Anh yêu em, em có hiểu không?Lâu nay anh luôn nghĩ tới nhưng chưa dám nói ra điều này vì sợ em còn quá trẻ lại đang bận học. Bây giờ anh đành phải vội, mong em thông cảm cho. Anh không đòi hỏi em phải trả lời anh ngay bây giờ nếu như đó là điều em chưa hề nghĩ tới. Vả lại cũng chưa biết khi nào anh mới lại gửi cho em địa chỉ chính thức để em có thể viết cho anh. Nếu điều anh thổ lộ có làm em phật lòng thì xin em hãy bỏ quá cho anh. Em hãy rộng lòng tha thứ cho một người lính đang bắt đầu cuộc trường chinh, chỉ dành ít phút hiếm hoi còn lại cho bản thân mình trước khi dành toàn tâm toàn lực cho sự nghiệp chung của Tổ quốc. Tạm biệt em, mong sớm ngày gặp lại em yêu quý.
Những dòng chử ngắn ngủi và vội vàng của anh đã làm tôi mất ngủ cả tháng trời. Thực ra đó là điều mà tôi hằng mong đợi, hằng thắc thỏm ngóng trông. Tình yêu đã thấm dần vào tôi từ khi nào không biết! Trước đó tôi chỉ thấy có cái gì khác lạ trong tình cảm mà tôi chưa từng có bao giờ. Giá lúc này tôi được gặp lại anh như tối hôm nào! Hồi ấy, khi chia tay, anh định bắt tay tôi mà tôi còn co rụt lại. Nếu bây giờ chắc tôi sẽ gục đầu vào anh mà khóc cho vợi hết nỗi ấm ức trong lòng. Anh đã đi xa, biết bao giờ gặp lại? Trái tim tôi lúc nhảy nhót lâng lâng, lúc bồi hồi nghẹt thở! Mặc dầu đã thuộc lòng, hầu như ngày nào tôi cũng lấy thư anh ra đọc, chỉ để nhìn thấy nét chữ của anh. Cứ mỗi lần trước lúc lên phòng thi tôi lại lấy thư anh ra đọc. Bức thư như thay anh động viên tôi, khích lệ tôi. Tôi nhìn bức thư như nhìn vào chính con người anh để hứa với anh là tôi thi tốt. Và tôi đã thi rất tốt, không nhửng học kỳ ấy mà cả nhửng học kỳ sau.
Chờ mãi rồi thư anh từ chiến trường cũng tới. Bức thư này anh viết tận Tây Nguyên. Anh mặc nhiên như tôi đã nhận lời yêu anh, bày tỏ nỗi yêu thương nồng nàn nhất mà một người yêu có thể dành cho một người yêu. Tôi viết cho anh cũng theo cách ấy, nghĩa là mặc nhiên coi như hai đứa đã yêu nhau từ lâu lâu lắm! Chẵng hiểu tại sao với anh tôi cũng không hề thấy ngượng ngập chút nào.
Sau Hiệp định Paris, chúng tôi được về Hà Nội học. Sống giữa phố phường tấp nập nhưng tôi vẫn không thấy vui hơn. Thỉnh thoảng tôi lại về Thanh Trì thăm mẹ anh. Bà cụ đã dần dần coi tôi như một nàng dâu. Nhiều hôm tôi ngủ lại cùng bà, được nghe bà kể vô khối chuyện về anh thuở bé. Tôi lại lấy những chuyện này viết thư trêu anh. Cách vài tháng mới nhận được một lá thư với đầy mùi vị đạn bom. Bức thư sau cùng anh gữi từ Miền Đông Nam Bộ. Anh đã tiến gần sát Sài Gòn...
Ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong niềm vui chung vô hạn tôi còn có một niềm vui thắc thỏm trong lòng. Anh sắp về cùng tôi. Chúng tôi đã xa nhau tới ba năm bốn tháng! Bây giờ tôi đã học năm cuối, sắp sửa ra trường. Tôi đã dành cả một đêm thức trắng cùng mẹ anh vạch định tương lai...
Bỗng một hôm bà cụ nhờ người lên tìm tôi. Bà vừa nhận được giấy báo tử đứa con trai duy nhất của mình! Tôi oà khóc. Bầu trời dường như đổ sập. Anh đã đi thật rồi ư? Các bạn tôi đến chia buồn và an ủi nhưng tôi hầu như không nghe thấy gì hết. Tôi như lạc vào một khoảng tối mênh mông, cô đơn và bất lực. Bao nhiêu ước vọng, bao nhiêu chờ mong bỗng chốc thành mây thành khói! Tôi thấy đời mình như hoàn toàn mất sạch, đất dưới chân như chao đảo, lung lay!. Mãi sau tôi cố trấn tĩnh, nhờ bạn chở về quê anh. Tôi đã ở lại với mẹ anh suốt ba ngày liền. Tôi an ủi mẹ, mẹ an ủi tôi. Chúng tôi đã chia sẻ với nhau nỗi mất mát lớn lao này. Cũng từ đó tôi thực sự là đứa con của mẹ. Anh mất ở Bình Dương, chưa kịp nhìn thấy Sài Gòn mà anh hằng ao ước! Khỏi phải nói chị cũng hiểu là tôi suy sụp biết chừng nào! Tôi thương tiếc anh, thương chính bản thân mình và hơn tất cả là thương bà mẹ già tội nghiệp của anh. Với bà hình như mặt trời đả tắt!
Năm tháng rồi cũng nguôi ngoai. Tôi lao vào học tập và nghiên cứu, quên hết mọi niềm vui trần tục mà mỗi người phụ nử đều luôn hướng tới. Ngày nghỉ tôi lại về với mẹ anh. Bà cũng ái ngại cho tôi khi tuổi mỗi ngày một lớn mà vẫn sống độc thân. Bà thường giục tôi tìm một chốn để nương nhờ khi mãn chiều xế bóng. Mười năm sau ngày anh mất, tôi lấy chồng và đã có một cháu trai. Tôi cũng yêu chồng tôi, nhưng đó là một tình yêu khác hẳn. Chồng tôi biết rất rỏ về mối tình đầu của tôi, một mối tình chỉ hoàn toàn trên thư từ mà rất nồng thắm. Anh ấy vẫn khuyến khích tôi giữ mối quan hệ với bà cụ Lạc. Cụ Lạc giờ đã ngoài tám chục. Cụ được nhà nước tuyên dương "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Chỉ còn một điều mà cụ và tôi không yên tâm là ngôi mộ anh Lạc sau hai lần tìm kiếm mà vẫn chưa tìm thấy để đem về quê mai táng. Tôi đã bàn với nhà tôi và nhà tôi đã động viên tôi đi tiếp chuyến này để cố tìm được mộ anh Lạc, đưa di cốt anh về với quê anh, gần với mẹ anh. Không hiểu sao tôi tin chuyến này tôi tìm được. Bao đêm rồi tôi cứ khấn cầu anh: "Anh Lạc ơi, anh sống khôn chết thiêng, bây giờ anh ở đâu, hãy dẩn đường cho em tìm thấy mộ anh để em đưa anh về quê với mẹ!" Chắc anh thấu tỏ lòng tôi... "

Tầu đã về tới ga Bình Triệu. Phố xá vào những ngày cuối năm, gần giáp tết thật ồn ào náo nhiệt. Sài Gòn đang thay da đổi thịt, đang háo hức chào xuân. Trong khung cảnh ấy, chắc khó ai ngờ có một người phụ nữ đang bắt đầu một cuộc hành hương tình nghĩa, đầy khó khăn vất vã, với một quyết tâm phi thường để tìm kiếm hài cốt một người yêu, một người liệt sĩ đã hy sinh vì chính mảnh đất này!
Chia tay chị, tôi cầu mong cho chị sớm tìm thấy mộ anh, kịp đưa anh về quê đón tết! Tôi tin chị sẽ thực hiện được điều mong ước cao quý của mình. Hiếm có một người nào như chị và như chồng chị, biết quý trọng tình yêu của mình và tình yêu của người thân như thế.
Ôi tình yêu, có gì đẹp và cao quý hơn một tình yêu chân chính!


1/2000

Không có nhận xét nào: